DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

                                                         Nguyễn Văn Phương

Tiến sĩ Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự, Bộ Quốc phòng

Nửa thế kỷ trôi qua, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. Nội dung bản Di chúc không chỉ là những lời tâm huyết, sâu lắng, tràn đầy yêu thương và trách nhiệm của Người đối với đất nước, dân tộc mà còn chứa đựng giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với con đường và công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam ngày nay.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Di sản vô giá, ngọn đuốc cho cách mạng Việt Nam

Năm mươi năm trước, sau khi đã “hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”, trước lúc đi xa, để “Đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta bản Di chúc thiêng liêng, đó là một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân, một anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Những lời căn dặn cuối cùng của Người là những tình cảm và niềm tin của Người đối với chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau.

Bản Di chúc là sự tổng kết sâu sắc suốt chặng đường đấu tranh để đi đến thắng lợi vô cùng vẻ vang của cách mạng Việt Nam; đồng thời, vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước. Di chúc ấy là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc, nguồn sức mạnh để động viên, cổ vũ nhân dân ta chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, thực hiện mục tiêu cao cả: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Người tìm ra, suốt đời phấn đấu, hy sinh để thực hiện mục tiêu đã được xác định.

Thực hiện Di chúc của Người, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, bằng bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, kết hợp và phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại đã “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, viết nên  bản hùng ca vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, Di chúc thiêng liêng của Người vẫn là ngọn đuốc soi đường, chỉ lối cho công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã và đang tiến hành là cuộc đổi mới được thực hiện dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới được bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chỉ là sự tiếp tục tất yếu của toàn bộ sự nghiệp đổi mới lâu dài mà Đảng, nhân dân ta tiến hành dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hoài bão và mong muốn tột bậc của Người từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến phút cuối cùng trước khi về cõi vĩnh hằng là: Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người căn dặn: Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Mục tiêu của cách mạng được Người khái quát hết sức rõ ràng và bình dị mà ai cũng có thể hiểu được và phấn đấu để thực hiện. Nhưng để xác định được những điều đó, Người phải rời xa Tổ quốc thân yêu, bôn ba khắp năm châu, bốn biển suốt 30 năm. Ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, giữa đêm dài nô lệ, dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai, đã có nhiều sĩ phu, văn thân, chí sĩ yêu nước xả thân vì dân, vì nước và ra đi để tìm đường cứu dân, cứu nước. Song duy nhất chỉ có Hồ Chí Minh tìm thấy con đường giải phóng dân tộc. Đó là, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đó ánh sáng soi đường cứu dân, cứu nước… như Người đã khẳng định sau khi được đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Rõ hơn, muốn giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội. Kể từ đó, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành mục tiêu và sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.

Không có gì quý hơn độc lập, tự do - Chân lý của tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới

Lịch sử dân tộc ta là lịch sử đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc. Qua hàng ngàn năm, các thế hệ người Việt Nam đã nối tiếp nhau chiến đấu cho nền độc lập, tự do của nhau chiến đấu cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Có thể nói, chưa có một dân tộc nào trên thế giới như dân tộc Việt Nam lại phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh, trong đó có các cuộc chiến tranh phải chống lại các thế lực xâm lược hung hãn nhất, hùng mạnh nhất của thời đại để giành độc lập, tự do. Chính vì thế, hơn ai hết nhân dân Việt Nam là người thấu hiểu giá trị của độc lập, tự do, hòa bình. Từ thực tiễn chống ngoại xâm, ông cha ta đã đúc kết được nhiều bài học và kinh nghiệm quý báu. Trí tuệ đánh giặc giữ nước là một trong những đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam. Hồ Chí Minh đã mang theo trí tuệ đó trong hành trình tìm đường cứu nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc là sự kết hợp tinh hoa của dân tộc với trí tuệ của thời đại, là học thuyết Mác - Lênin và thực tiễn của cả cuộc đời đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng cao thượng, phong phú và sáng tạo của Người cho độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Vì vậy, chân lý Không có gì quý hơn độc lập, tự do do Người tổng kết không chỉ là chân lý cho dân tộc Việt Nam mà còn là chân lý cho tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nó là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của các dân tộc trong thời đại ngày nay. Chân lý đó được các dân tộc trên thế giới thừa nhận như một lẽ tự nhiên, không ai có thể bác bỏ. Có thể nói rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc là bước phát triển mới của học thuyết Mác - Lênin về cách mạng vô sản ở các dân tộc thuộc địa.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có sự gắn bó thống nhất: Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự gắn bó này vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng loài người khỏi áp bức, bóc lột. Mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội là vì con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân và xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công giữa người với người. Bởi vì, nếu xóa bỏ áp bức dân tộc mà không xóa bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp thì nhân dân lao động vẫn chưa được giải phóng. Theo Người, độc lập, thống nhất của Tổ quốc phải gắn với tự do, hạnh phúc của nhân dân. Người nhiều lần nhắc nhở: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”, Người mong muốn: “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Đó không chỉ là lời động viên, khích lệ, mà còn là niềm tin và mong ước của Người trước lúc đi xa. Người cũng dự liệu rằng, chỉ có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chỉ có phát triển kinh tế, văn hóa một cách mạnh mẽ mới có thể làm cho dân giàu, nước mạnh. Đấu tranh giành cho được độc lập, tự do đã khó, nhưng làm cho những giá trị của độc lập, tự do có ý nghĩa thực sự, biến những giá trị tinh thần - chính trị thành những giá trị vật chất cụ thể lại còn khó khăn hơn nhiều. Vì vậy, giành được độc lập rồi phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự phát triển đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội là sự bảo đảm vững chắc nhất cho nền độc lập dân tộc.

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Người đi vào cõi vĩnh hằng nhưng tên tuổi, sự nghiệp vĩ đại cùng với tấm lòng nhân ái của Người vẫn còn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện lịch sử mới của Đảng ta. Suy ngẫm và cảm nhận nhiều điều sâu sắc từ bản Di chúc thiêng liêng của Người, mỗi công dân Việt Nam, đặc biệt là mỗi cán bộ, đảng viên luôn nguyện ra sức phấn đấu, thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Đó là phương cách tốt nhất để thể hiện lòng biết ơn và thực hiện lời hứa thiêng liêng với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

CHỐNG “TƯ DUY NHIỆM KỲ” TỪ BÀI HỌC ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

                                                              Lê Thanh Hà

PGS.TS, Viện Triết học, Học viên chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành nhiều thời gian, tâm huyết cho việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Để làm tốt điều đó, theo Người, cần quan tâm, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, bởi chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân sinh ra hàng trăm thứ bệnh, mà một trong số đó hiện nay là “tư duy nhiệm kỳ”. Muốn loại bỏ “tư duy nhiệm kỳ” cần quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng; do đó, nghiên cứu, quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân sẽ rút ra bài học có giá trị đối với việc đấu tranh chống ‘tư duy nhiệm kỳ” ở Việt Nam hiện nay.

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân có mặt mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, bên trong mỗi con người và chỉ chờ thời cơ để bộc lộ. Ngay từ năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người đã căn dặn toàn Đảng phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân; bởi theo Người: “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể”. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ để ra tất cả mọi tính hư, nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô,… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”. Cụ thể hơn, “chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác.

Ngày nay, chủ nghĩa cá nhân đang là bệnh “mẹ” của “tư duy nhiệm kỳ”. “Tư duy nhiệm kỳ” là một khái niệm mới kể cả nội hàm và ngoại diên. Có thể hiểu, “tư duy nhiệm kỳ” là tầm nhìn ngắn hạn, là cách làm việc siêu hình, thiển cận của một số cán bộ, đảng viên giới hạn trong một nhiệm kỳ mình tại vị. Mục tiêu của họ là chạy theo lợi ích cục bộ, lo thu vén cho lợi ích cá nhân hơn là lo nghĩ cho lợi ích của đất nước, lợi ích tập thể. Trong nhiệm kỳ nắm giữ cương vị lãnh đạo, họ không muốn nghĩ, không muống trăn trở để tìm tòi hướng đi mới, cách làm hay đem lại lợi ích lâu dài cho đất nước mà họ tìm mọi cách vơ vét lợi ích cho bản thân, “giữ ghế” an toàn để đến hết nhiệm kỳ để về hưu hoặc được luân chuyển đi nơi khác có vị trí cao hơn. Về cơ bản, chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” có cùng bản chất và được biểu hiện ở các mặt sau:

Một là, chủ nghĩa cá nhân thích hưởng thụ, đòi thỏa mãn ham muốn của cá nhân, của nhóm lợi ích. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chủ nghĩa cá nhân chớm nở, họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích của cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng. Dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”. Biểu hiện này giống với “tư duy nhiệm kỳ”, vì những người mắc bệnh “tư duy nhiệm kỳ” cũng thường chạy theo lợi ích cục bộ nhằm đạt được mục tiêu, lợi ích ngắn hạn, không quan tâm đến mục tiêu dài hạn, mục tiêu chiến lược, hiệu quả lâu dài mà chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân, hưởng thụ thành quả trước mắt hơn là lo nghĩ cho lợi ích của đất nước. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, đó là bệnh cận thị, “không trông xa, thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú việc tỉ mỉ. Thí dụ việc tăng gia sản xuất, việc tiếp tế bộ đội thì không lo đến, mà chỉ lo thế nào để lợi dụng cơm cháy và nước vo gạo trong các bộ đội. Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn”. Những người có tư tưởng chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” này chủ yếu làm những việc lặt vặt, trước mắt, sắp xếp công việc một cách lộn xộn, thiếu tính lô-gic khoa học. Người cán bộ, lãnh đạo có “tư duy nhiệm kỳ” sẽ tìm cách sử dụng quyền lực, lợi dụng uy tín, ảnh hưởng, chức vụ của mình trong nhiệm kỳ công tác để tạo ảnh hưởng hoặc ra những quyết định nhằm phục vụ lợi ích cá nhân. Mục đích của những người có “tư duy nhiệm kỳ” là “vụ lợi cá nhân” để hưởng thụ. “Vụ lợi cá nhân” trong trường hợp này cần được hiểu theo nghĩa rộng là nhằm phục vụ cho lợi ích bản thân người cán bộ lãnh đạo, cho gia đình và thậm chí là cho “phe”, “cánh” của người đó.

Sự kết hợp của “tư duy nhiệm kỳ” và chủ nghĩa cá nhân đã tạo ra những biểu hiện tha hóa trong sử dụng quyền lực, phá vỡ trật tự, kỷ cương, làm băng hoại giá trị truyền thống trong các quan hệ xã hội. Hành vị này tạo ra hiện tượng chạy cơ chế, chạy chính sách, chạy quy hoạch, chạy dự án, chạy vốn, chạy chức, chạy quyền, chạy luân chuyển, chạy thành tích và cả chạy tội, chạy án…; làm sai lệch các tín hiệu thị trường, cơ cấu và định hướng phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực quốc gia; làm tăng nợ công và sự bất ổn vĩ mô; làm mất tính nghiêm minh và chuẩn mực của pháp luật; làm giảm sút hiệu quả đầu tư, làm mất cơ hội và sức cạnh tranh trong nền kinh tế.

Hai là, chủ nghĩa cá nhân sinh ra bệnh quan liêu, kiêu ngạo, hình thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng. Kiêu ngạo. Chậm chạp. Làm cho qua chuyện. Ham chuộng hình thức”. Chủ nghĩa cá nhân sinh ra bệnh kiêu ngạo, tự cao, tự đại, hay lên mặt, ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình, thích sai khiến người khác. Những căn bệnh đó cũng là biểu hiện cụ thể của ‘tư duy nhiệm kỳ” với các đặc điểm chủ yếu, như động cơ hám danh, hám quyền lực, hám lợi, thích khoe khoang. “Tư duy nhiệm kỳ”, với cách tư duy ngắn hạn, dẫn đến thái độ làm việc tắc trách, không đi sâu, đi sát công việc, và khi đã yên vị trên “ghế” rồi thì dễ dẫn đến quan liêu, kiêu ngạo và bệnh hình thức. Người có biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ” thường đề ra mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ cao hơn nhiệm kỳ trước, không sát với yêu cầu thực tiễn, từ đó tìm mọi cách để đạt được các ý đồ đã đề ra có lợi cho bản thân, cho nhóm lợi ích của mình; hoặc thực hiện những chỉ tiêu, mục tiêu, dự án, chương trình nhanh thu lợi nhất, có kết quả ngay, để lại dấu ấn trong nhiệm kỳ mình đương chức, và bỏ bê các mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình, dự án khó thực hiện, thực hiện không có lợi, không có hiệu quả ngay, không để lại dấu ấn, viện dẫn lý do ngụy biện để lại cho nhiệm kỳ sau, cho người kế nhiệm. Bệnh quan liêu, hình thức của “tư duy nhiệm kỳ” thể hiện rõ thông qua các công trình hoành tráng, như tượng đài, đình, chùa, nhà văn hóa, sân vận động, cầu cống, đường xá,…; tổ chức các lễ kỷ niệm, lễ hội thật lớn để ghi dấu ấn. Hay bệnh hình thức, thành tích trong chính trị thì biểu hiện ở việc chạy các danh hiệu, như chiến sĩ thi đua, anh hùng lao động,… trong nhiệm kỳ mình đương chức để phô trương, khuếch đại thành tích tập thể, cá nhân, “đánh bóng tên tuổi”. Hậu quả là lãnh đạo thì trong “men say” của niềm tự hào, kiêu hãnh mà không dựa trên năng lực thực tế của địa phương. Đây cũng là động cơ của những kẻ cá nhân chủ nghĩa trước đây và bây giờ là biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ”.

Ba là, chủ nghĩa cá nhân ngại khó khăn, gian khổ, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, cục bộ, bè phái. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ…”. Mang trong mình chủ nghĩa cá nhân, những người này ngại khó khăn, gian khổ, có lối sống ích kỷ, thực dụng, thường lợi dụng những sơ hở trong chính sách và trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo để tiến thân, phục vụ cho tham vọng chính trị, lợi ích của mình; đồng thời khi ngon ngọt, khi công kích để, một mặt, cấu kết, bè phái; mặt khác, chống phá, gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy yếu, hạ thấp uy tín của Đảng. Khi không thực hiện được ý đồ cá nhân, không thăng tiến được, không kiếm được nhiều lợi lộc hoặc bị kỷ luật, thì sinh ra bất mãn, buông xuôi. Do đó, khi có sự móc nối, lôi kéo của các thế lực thù địch, các phần tử này dễ quay ra chống lại Đảng và chế độ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Đây cũng là biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ”, vì cùng có chung một đặc điểm nguy hiểm là thoái thác trách nhiệm, lạm dụng các kẽ hở và ẩn mình trong vỏ bọc các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước nhưng thực chất là nhân danh cái tốt đẹp, lợi ích tập thể, cộng đồng để thu vén cho lợi ích cho cá nhân, gia đình, hoặc “nhóm cánh hẩu” của mình. Sự cấu kết giữa các cá nhân chủ nghĩa với các nhà hoạch định chính sách theo “tư duy nhiệm kỳ” dễ dẫn đến tham nhũng, hoặc trục lợi, thu lợi nhanh nhất cho cá nhân, cho một nhóm người và hệ lụy của nó là phá hỏng thành quả của xã hội, để lại hậu quả cho các nhiệm kỳ sau phải gánh chịu và khắc phục.

Người có “tư duy nhiệm kỳ” thường ý chí hóa cá nhân vào chủ trương lãnh đạo của cấp ủy, nhằm né tránh nhiệm vụ khó khăn, phức tạp. Không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý ở “bình minh nhiệm kỳ” thì hứa hẹn, hô hào, nhưng đến nửa nhiệm kỳ thì nhạt dần và đến cuối nhiệm kỳ thì tỏ ra đối phó, trì trệ, cầm chừng. Với “tư duy nhiệm kỳ”, người kế nhiệm thay vì tiếp tục thực hiện, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm kế hoạch “dài hơi” của người tiền nhiệm thì lại đặt ra kế hoạch mới để rồi cũng dang dở khi về hưu, hoặc chuyển công tác. Đặc biệt, ở “hoàng hôn nhiệm kỳ”, họ thường tranh thủ thực hiện “chuyến tàu vét” bằng cách ký kết các dự án kinh tế kém hiệu quả, đề bạt, bổ nhiệm hàng loạt cán bộ, trong đó có cả những cán bộ yếu kém về năng lực, phẩm chất… Sự thiếu khách quan và những tiêu cực của nó đã hình thành nên một dàn cán bộ lãnh đạo khóa sau cũng rơi vào chủ nghĩa cá nhân, “tư duy nhiệm kỳ”; làm thui chột động lực học tập, rèn luyện, phấn đấu của những cán bộ tốt; tạo nên dư luận xấu trong nội bộ và đối với cả những cán bộ được đề bạt.

Với những biểu hiện nêu trên, chúng ta thấy chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Từ chủ nghĩa cá nhân đã sinh ra “tư duy nhiệm kỳ” - tư duy ngắn hạn, chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt. Đồng thời, “tư duy nhiệm kỳ” luôn gắn liền với lợi ích cá nhân, lợi ích trước mắt mà không thấy lợi ích lâu dài của đất nước, của nhân dân. Cả hai căn bệnh này đều là “giặc nội xâm”, chúng phá hoại đất nước từ bên trong và nguy hại hơn bất kỳ kẻ địch nào khác. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Còn hiện nay, tại Hội nghị phổ biến Nghị quyết Trung ương 3 khóa XI (ngày 10-10-2011), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc đến “tư duy nhiệm kỳ” của cán bộ, đảng viên ở nước ta như một căn bệnh, một tệ nạn trong xã hội cần phải chống. Tại Đại hội XII (năm 2016), Đảng ta cũng khẳng định, cùng với “lợi ích nhóm”, “tư duy nhiệm kỳ” chính là một trong những rào cản lớn trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Vì vậy, Đảng ta chủ trương “Xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi, khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”.

Nguyên nhân chủ yếu của “tư duy nhiệm kỳ” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân họ sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân. Vì vậy, loại bỏ “tư duy nhiệm kỳ” cần phải gắn chặt với chống chủ nghĩa cá nhân và phải coi đó là nhiệm vụ thường xuyên trong suốt cuộc đời mỗi người cán bộ, đảng viên. Đồng thời, cuộc đấu tranh loại bỏ “tư duy nhiệm kỳ” là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, lâu dài và gian khổ, bởi lẽ chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” là những kẻ thù không lộ nguyên hình mà ẩn nấp trong tư tưởng, suy nghĩ của mỗi cá nhân và hành vi của mỗi cá nhân đó. Do đó, đấu tranh với ảnh hưởng tiêu cực của “tư duy nhiệm kỳ” là vấn đề mang tính chiến lược, cấp bách, song không hề dễ dàng, cần đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất, trực tiếp, toàn diện của cấp ủy, chính quyền các cấp, huy động sự ủng hộ và tham gia của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Trích đăng từ Tạp chí Cộng sản của Đảng phát hành tháng 8 năm 2019.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

 

Trong tháng 7-2019, nhà cầm quyền Trung Quốc đã đưa tàu khảo sát Hải Dương 8 và các tàu hộ tống của Trung Quốc đến hoạt động tại khu vực bãi Tư Chính, xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Đến đầu tháng 8-2019, tàu Hải Dương 8 được rút đi nhưng chỉ ít ngày sau thì họ quay trở lại. Trong thời gian này, các cơ quan chấp pháp của Việt Nam đã kiên trì thực hiện các biện pháp hòa bình để bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền của nước ta theo luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, một số cá nhân tổ chức đã tự phát tổ chức các cuộc tụ tập lẻ tẻ trên dưới 10 người ở vài nơi, đồng thời kêu gọi người dân thực hiện cái gọi là “biểu tình” để phản đối hành động sai trái của Trung Quốc. Xét ở góc độ tinh thần yêu nước, điều này hoàn toàn có thể chia sẻ được, nhưng xét ở góc độ thực tiễn, việc tuần hành hay biểu tình không giúp giải quyết được vấn đề. Đồng thời, nếu nhìn lại quá khứ, hành động này có thể tạo ra những hệ lụy không nhỏ cho người dân, cho đất nước. Đó là bài học rút ra từ vụ việc của giàn khoan Hải Dương 981 từ 5 năm trước.

Ngày 2-5-2014, giàn khoan Hải Dương 981 được Trung Quốc đưa đến khu vực biển cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa (huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng của Việt Nam) 17 hải lý (khoảng 30 km) về phía nam, cách đảo Hải Nam 180 hải lý 180 hải lý về phía nam, cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi của Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía đông. Vị trí mà Trung Quốc đặt giàn khoan nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam.

Ngay khi xảy ra vụ việc, phía Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt để bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền của mình, như cử nhiều tàu bao gồm tàu cảnh sát biển, tàu kiểm ngư tới các khu vực gần giàn khoan, tổ chức bảo vệ các tàu cá của ngư dân Việt Nam bị các tàu của Trung Quốc đâm va, đánh chìm, cướp tài sản; hai bên đã có nhiều cuộc làm việc để giải quyết vấn đề trên cơ sở hòa bình; trao công hàm phản đối, yêu cầu Trung Quốc phải rút ngay giàn khoan và tàu hộ tống... Thủ tướng  Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng lúc ấy cũng đã tố cáo hành động này của Trung Quốc tại Hội nghị Thượng định ASEAN lần thứ 24 ở Myanmar, đồng thời kêu gọi sự ủng hộ của quốc tế. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh nhiều lần thực hiện các cuộc điện đàm về vụ giàn khoan Hải Dương 981, yêu cầu Trung Quốc phải rút giàn khoan và tàu hộ tống ra khỏi vị trí tranh chấp. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã đưa công hàm phản đối Trung Quốc ra Liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế khác cùng các cơ quan báo chí. Tại Đối thoại ASEAN - Mỹ lần thứ 27 diễn ra tại Yangon, Myanmar, Việt Nam tố cáo Trung Quốc hạ đặt giàn khoan và đưa nhiều tàu hộ tống bảo vệ xâm phạm sâu trong vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời liên tục gây hấn, cố tình đâm húc, gây hư hại các tàu kiểm ngư, tàu cảnh sát biển, tàu cá của ngư dân Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. Sở Ngoại vụ TP.HCM mời Tổng Lãnh sự Trung Quốc tại TP.HCM đến để phản đối việc Trung Quốc đơn phương đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa và của Việt Nam.

Chúng ta cũng đã tổ chức nhiều đợt đưa phóng viên nước ngoài ra tác nghiệp tại thực địa, qua đó nhiều hình ảnh về các hoạt động sai trái, thô bạo của phía Trung Quốc được lan truyền khắp thế giới, tạo nên làn sóng phản đối Trung Quốc và ủng hộ Việt Nam rộng rãi ở nhiều nước.

Do sự đấu tranh quyết liệt của phía Việt Nam, sự phản ứng mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, ngày 16-7-2014, toàn bộ tàu của Trung Quốc cùng với giàn khoan đã rút khỏi khu vực hạ đặt và di chuyển về phía đảo Hải Nam.

Trong thời gian này, một số cuộc tuần hành, biểu tình đã diễn ra ở vài nơi trong nước và một số nước khác. Đặc biệt, các cuộc tuần hành tại Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Huế, Quảng Nam… vào ngày chủ nhật. Ở một vài nơi, có tình trạng một số kẻ lợi dụng tuần hành để trưng các khẩu hiệu khác với tính chất của cuộc tuần hành, làm số đông người dân tham gia bức xúc và phản đối.

Tuy nhiên, từ chiều tối 12, tiếp đó là trong các ngày 13, 14-5-2014, nhiều công nhân tại các khu công nghiệp ở Hà Tĩnh, Đồng Nai, Bình Dương và TP.HCM bỏ việc và biểu tình tuần hành phản đối Trung Quốc. Trong đó, tại Bình Dương, trà trộn vào công nhân, một số người đã gây hấn, đập phá các công ty của người Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, kể cả Nhật Bản, gây hỗn loạn cục bộ ở vài nơi. Trong vụ việc này, có nhiều công ty nước ngoài bị đập phá, đốt cháy; nhiều nơi xảy ra tình trạng trộm cắp tài sản; hiện tượng các phần tử xấu kích động công nhân phá hoại tài sản, bỏ việc, xuống đường biểu tình xảy ra khá phổ biến ở các công ty, khu công nghiệp… Có trên một số chiến sĩ công an bị thương khi làm nhiệm vụ, chủ yếu do các đối tượng quá khích dùng gạch đá ném. Trong các vụ bạo động này, đã xảy ra tình trạng chết người và nhiều người bị thương.

Sau vụ việc, nhiều công ty, nhà máy, xí nghiệp phải ngưng hoạt động dài hạn, do nhà xưởng, máy móc, thiết bị bị hư hỏng, mất mát. Một số doanh nghiệp cũng đã chấm dứt hoạt động tại Việt Nam. Nhiều đối tượng quá khích và có hành vi vi phạm pháp luật đã bị xử lý. Chính quyền các địa phương phải thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ công nhân bị mất việc và các doanh nghiệp bị thiệt hại do bạo động gây ra.

Một số bài học rút ra từ vụ việc này là:

Thứ nhất, nhìn chung, các cuộc tuần hành phản đối hành động sai trái của phía Trung Quốc đã góp phần khơi gợi và lan tỏa tinh thần yêu nước của người dân. Tuy nhiên, gần như đằng sau vụ tuần hành nào cũng có hiện tượng lợi dụng, phá rối. Đó là các phần tử cơ hội chính trị, phản động, khủng bố tranh thủ đưa các khẩu hiệu “lạc quẻ” với nội dung và tính chất của cuộc tuần hành. Đó là hiện tượng kích động hành vi bạo lực, vi phạm pháp luật của một số phần tử xấu đối với người tham gia tuần hành. Đó là việc lợi dụng hỗn loạn để cướp phá tài sản, trả thù cá nhân… Những điều này gây tác động xấu về nhiều mặt đến đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội…

Thứ hai, bên cạnh việc khẳng định lòng yêu nước của người dân thì thiệt hại đến nhiều đối tượng cũng diễn ra với mức độ không nhỏ. Không chỉ các doanh nghiệp bị thiệt hại tài sản, đình đốn sản xuất mà chính công nhân – những người vô tình hay cố ý tham gia các vụ đình công, tuần hành, phá hoại – và nhiều người khác, bị mất việc làm, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ và gia đình. Việc đi lại, sản xuất, kinh doanh của nhiều người dân ở khu vực có tuần hành, bạo động cũng bị ảnh hưởng.

Thứ ba, nhà nước phải tốn nhiều chi phí để hỗ trợ công nhân và các doanh nghiệp bị thiệt hại, thất thu thuế do nhiều doanh nghiệp ngưng hoạt động… Qua vụ việc này, uy tín về bảo đảm an ninh, về xây dựng môi trường đầu tư lành mạnh ít nhiều bị ảnh hưởng dưới mắt một số nhà đầu tư nước ngoài. Hình ảnh thân thiện, hòa bình của Việt Nam cũng bị giảm sút trong nhìn nhận của khách nước ngoài...

Hiện nay, Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của nước ta tại bãi Tư Chính, khu vực hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Đảng và Nhà nước chỉ đạo các lực lượng chức năng của Việt Nam đã và đang thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt, hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế để giải quyết vấn đề. Sự quan tâm của người dân đối với vụ việc này là rất rõ, qua đó thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc. Tuy nhiên, việc thể hiện tinh thần đó cần bằng những cách thức và thái độ phù hợp, cần hết sức bình tĩnh, kiềm chế, tránh thực hiện các hành vi, hoạt động có thể gây kích động hoặc lây lan các biểu hiện mất kiểm soát, dẫn đến càng làm trầm trọng thêm vấn đề. Người dân các ngành, các giới, trong nước cũng như ngoài nước, cần đoàn kết chặt chẽ với nhau, với các lực lượng chức năng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, để củng cố sức mạnh của đất nước, nhằm đấu tranh thắng lợi vụ việc này.

NGŨ YÊN

Theo Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                 Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 20/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

Ngày 03/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trải qua muôn vàn thử thách trong máu lửa đấu tranh, với các cao trào cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931, Cao trào mặt trận dân chủ 1936 - 1939 và cao trào chống phát xít đầu những năm 40 của thế kỷ XX, Đảng và nhân dân ta đã có nhiều bài học kinh nghiệm quý giá, chuẩn bị cho cuộc cách mạng giải phóng, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Những ngày đầu năm 1945, quân đội Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường châu Âu, phát xít Đức phải đầu hàng vô điều kiện. Đảng ta xác định: “Kẻ thù số 1 của các dân tộc Đông Dương lúc này không phải là tất cả chủ nghĩa đế quốc mà chỉ là đế quốc phát xít, đặc biệt là phát xít Nhật”. Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị đang phát triển mạnh mẽ. Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng Nhật, cứu nước diễn ra mạnh mẽ. Phong trào đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần đã diễn ra ở nhiều vùng.

Với những diễn biến của cách mạng trong nước và thế giới, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945 đã quyết định “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi”, phải “Kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội”, khẩn trương “Đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê, thành lập uỷ ban nhân dân ở những nơi làm chủ”, tất cả vì mục tiêu “Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, dưới sự lãnh đạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổng Khởi nghĩa, giành chính quyền. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đây là thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và ngày 2-9-1945 trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, mở ra trang sử mới vô cùng rạng rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã xoá bỏ chế độ thuộc địa, nửa phong kiến ở Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là chiến công vĩ đại, là niềm tự hào của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các thế lực thực dân, đế quốc đã quay lại xâm lược nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập và đã giành thắng lợi vẻ vang trong các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, 74 năm qua kể từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân ta đã vượt qua mọi thử thách, hiểm nguy, liên tiếp đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; đã có biết bao cán bộ, chiến sĩ, đồng bào cả nước nói chung, huyện nhà nói riêng đã ngã xuống, hoặc hy sinh một phần thân thể và của cải vật chất cho sự nghiệp cách mạng, gương hy sinh của các đồng chí, đồng bào đã thắp sáng cho thế hệ đời sau ngọn lửa thiêng không bao giờ tắt. Đó là lòng yêu nước, thương dân, gắn liền với niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp nhận hy sinh gian khổ, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng bất cứ kẻ thù nào muốn chia rẽ dân tộc, xâm phạm Tổ quốc.

Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân xâm lược mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.

Vinh quang này mãi mãi thuộc về nhân dân Việt Nam anh hùng, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng - trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

                                                                                              

                                                                  Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                   Ngày 20/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

 

Trang Dân làm báo vừa đăng tải lời kêu gọi đồng bào quốc nội và hải ngoại cùng đồng loạt xuống đường biểu tình để “phản đối Trung Quốc”; “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ”, “thể hiện lòng yêu nước”. Thời gian xuống đường theo lời kêu gọi là từ 22-25/8/2019.

Như vậy, sau nhiều bài phân tích, bình luận theo hướng xuyên tạc hòng làm nóng vấn đề bãi Tư Chính, thổi phồng nguy cơ Trung Quốc xâm lược hòng kích phát lòng yêu nước của người dân Việt Nam, con cáo cũng lòi đuôi bằng lời kêu gọi xuống đường tổng biểu tình.

Đây là một âm mưu chống phá Nhà nước Việt Nam núp danh nghĩa "yêu nước". Bởi tổ chức đứng ra kêu gọi biểu tình là trang Dân làm báo - một tổ chức ngoại vi của tổ chức phản động, khủng bố Việt Tân. Người cầm đầu của Dân làm báo là Hà Đông Xuyến, ủy viên Trung ương của tổ chức khủng bố Việt Tân. Có thể nói mọi đường hướng hoạt động của Dân làm báo là của Việt Tân.

Rõ ràng, đằng sau lời kêu gọi biểu tình này mùi chống phá của Việt Tân rất rõ.kịch bản vẫn là núp dưới danh nghĩa "yêu nước", kêu gọi người dân xuống đường biểu tình dưới danh nghĩa bảo vệ chủ quyền, phản đối Trung Quốc rồi tìm mọi cách chuyển từ biểu tình phản đối Trung Quốc sang thành biểu tình chống Nhà nước, gây rối an ninh trật tự, thậm chí là kích động thành bạo động, bạo loạn theo kịch bản “cách mạng sắc màu” hòng thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam.

Việt Tân và Dân làm báo đang muốn tái diễn những cuộc bạo động như hồi năm 2014 khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD981 vào hoạt động tại vùng biển Việt Nam. Bài học đó còn đang hiển hiện trước mắt chính quyền và nhân dân ta

Lời kêu gọi biểu tình cùng với những hành vi tán phát thông tin, kích động lôi kéo người dân chính là hành vi vi phạm pháp luật, cần phải bị đẩy lùi và xử lý nghiêm minh. Đặc biệt, không gian mạng phải được gìn giữ, bảo vệ không để kẻ xấu lợi dụng, biến đó thành môi trường phá hoại sự yên bình của đất nước. Mỗi người dân, mỗi cư dân mạng cần kịp thời vạch trần, đấu tranh, tẩy chay và báo cáo kịp thời với cơ quan chức năng những thủ đoạn lôi kéo đó. Đối với các cơ quan pháp luật và chính quyền cơ sở, cần chủ động hơn, kiên quyết hơn để nhanh chóng phát hiện và xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm; có phương án phòng ngừa, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, không để kẻ xấu thực hiện âm mưu biểu tình, gây rối và kích động phá hoại đất nước.

Vẫn biết rằng trước hành động ngang ngược của Trung Quốc trên biển Đông xuất phát từ lòng yêu nước, nhiều người dân rất bức xúc, rất căm phẫn. Nhưng xin mọi người hãy yêu nước bằng cả con tim và trí óc, và tuân thủ pháp luật, đừng để các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, đối tượng xấu lợi dụng kích động, không những không thể hiện được lòng yêu nước mà còn tiếp tay cho kẻ địch chống phá đất nước, vi phạm pháp luật.

Là người Việt Nam yêu nước thực sự hãy giữ bình ổn đất nước để phát triển. Đặc biệt đối với những bạn trẻ hãy cảnh tỉnh trước những lời xuyên tạc, dụ dỗ của các phần tử phản động. Không đăng tải, “câu like” với nội dung xuyên tạc, kêu gọi tham gia biểu tình của chúng cho bạn bè của mình. Bởi vì, các thế lực thù địch chỉ mong trong nước chúng ta xảy ra các sự kiện phức tạp chính trị, xã hội để kích động biểu tình, gây rối trật tự xã và làm chúng ta ảnh hưởng về đối ngoại, thiệt hại không nhỏ về kinh tế…

Chúng ta hãy chọn cách đồng lòng cổ vũ, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho cán bộ, chiến sỹ cảnh sát biển, kiểm ngư, hải quân để họ vững tâm nắm chắc tình hình trên biển, nhạy bén với mọi tình huống, tự tin ứng phó và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Theo Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                 Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 20/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

Vừa "đuổi", vừa "xây" đó là quyết định sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta khẳng định chủ quyền trên biển.

Sáng 18/8/2019, chân đế giàn khai thác "Sao vàng - Đại nguyệt" siêu to khổng lồ, nặng 14.000 tấn lớn nhất từ trước tới nay vừa hoàn tất quá trình lắp đặt tại thềm lục địa phía nam của Việt Nam. Vậy là một cột mốc khổng lồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện trên biển. Chẳng cần phải vác ra tòa án quốc tế để kêu khóc như nhiều bạn già và trẻ đòi hỏi, chủ quyền ta thì ta cứ đóng giàn ở đó thôi.

Chúc mừng ngành khoan thăm dò và khai thác dầu khí VIỆT NAM.

Cảm ơn các lực lượng Cảnh sát biển, kiểm ngư, ngư dân VIỆT NAM đã bảo vệ thành công chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                                  Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 19/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

Yêu nước là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Nó được hình thành, hun đúc và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành sức mạnh vô cùng to lớn để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, chống đối thông qua các chiêu trò cố tình lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân ta để thực hiện những mưu đồ đen tối.

Tổ quốc là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, truyền thống ông cha ta luôn kế truyền, phát huy đời này qua đời khác với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Việc giữ vững độc lập chủ quyền lãnh thổ phải bằng các chủ trương, đường lối phù hợp, lấy hòa bình, ổn định làm trọng, hết sức ngăn ngừa các nguy cơ gây chiến tranh, xung đột.

Thời gian qua, những tranh chấp về chủ quyền biển đảo tại khu vực Biển Đông diễn biến phức tạp. Về phía Việt Nam, chúng ta kiên định mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trên cơ sở tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại cố tình lợi dụng vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông để xuyên tạc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Nhận diện những luận điệu chống phá

Gần đây, một số trang thông tin của các cá nhân, tổ chức phản động và trang báo thù địch ở nước ngoài đăng tải nhiều bài nói, bài viết, thông tin liên quan đến việc nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tuy nhiên, nội dung của các bài nói, bài viết, thông tin được đưa ra lại có nhiều vấn đề sai lệch, mang tính kích động người dân. 
Đích đến của các đối tượng là lợi dụng vấn đề này để làm cho tình hình trong nước trở nên rối ren, phức tạp, âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá chính quyền, thực hiện các cuộc “đấu tranh bất bạo động” theo một kịch bản có sẵn và cuối cùng là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành hướng lái chính trị ở Việt Nam. Những thông tin, luận điệu nguy hiểm đang được các thế lực thù địch đưa ra trên mạng gồm:

Thứ nhất, kích động người dân tuần hành, biểu tình, tụ tập đông người gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự.

Thực tế, việc kích động người dân xuống đường tụ tập, tuần hành, biểu tình không phải là vấn đề xa lạ. Đây là một phần trong kịch bản “cách mạng đường phố” mà các đối tượng đang hướng đến. Dưới vỏ bọc tuần hành thể hiện tình yêu nước và bảo vệ Tổ quốc, các đối tượng rêu rao việc xuống đường đấu tranh là ôn hoà, phi bạo lực.

Tuy nhiên, đây là cái cớ để chúng thực hiện mục tiêu chống phá như ném bom xăng, tấn công trụ sở cơ quan công quyền, tấn công cảnh sát, cán bộ cơ quan Đảng, Nhà nước. Năm 2014, khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD981 vào vùng biển của Việt Nam, lợi dụng lòng yêu nước của quần chúng nhân dân, các đối tượng đã dựng lên cái gọi là “tuần hành ôn hoà” tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước.

Vậy nhưng sự “ôn hoà” lại được thể hiện bằng cách đập phá tài sản của doanh nghiệp, ném bom xăng vào trụ sở cơ quan chức năng, chống người thi hành công vụ, gây nhiều hệ lụy.

Cũng cần nhấn mạnh thêm, không chỉ riêng sự kiện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ trên biển Đông mà đối với tất cả các sự kiện “nóng”, các thế lực thù địch đều cố tình kích động người dân xuống đường biểu tình chống đối chính quyền. Đây là một phần trong âm mưu gây bạo loạn, lật đổ chính quyền qua con đường gọi là “phản kháng phi bạo lực” mà các đối tượng đang sử dụng để lừa dối người dân.

Thứ hai, xuyên tạc trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của người dân

Bảo vệ Tổ quốc là quyền và đồng thời cũng là trách nhiệm vô cùng thiêng liêng của mỗi người dân. Điều 64, Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sự nghiệp của toàn dân”.
Trong đó, nòng cốt tham gia vào sự nghiệp này là lực lượng vũ trang nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, chống đối lại xuyên tạc rằng, đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là trách nhiệm của lực lượng vũ trang, không phải là trách nhiệm của nhân dân. Bằng những lập luận vô căn cứ của mình, các đối tượng cố tình xuyên tạc trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân.

Qua các luận điệu sai lệch, các đối tượng muốn tách lực lượng vũ trang ra khỏi quần chúng nhân dân. Từ đây âm mưu của kẻ địch là khiến cho khối đoàn kết quân – dân bị lung lay, làm cho sức mạnh nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân bị suy yếu.

Cùng với đó, các đối tượng còn cổ suý, đưa luận điệu tuyên truyền “hãy để dân yêu lấy Tổ quốc mình”. Các đối tượng cho rằng, “tự người dân có thể bảo vệ Tổ quốc”, không cần sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Thông qua những luận điệu này, các đối tượng kích động, chia rẽ nhân dân với Đảng và Nhà nước, hình thành nhận thức sai lệch về sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Thứ ba, xuyên tạc chủ trương, đường lối bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia của Đảng, Nhà nước ta

Với những căn cứ lịch sử, pháp lý của mình, Việt Nam hoàn toàn có chủ quyền trên khu vực biển Đông. Mọi hành động tranh chấp của phía Trung Quốc đều là đơn phương và không có giá trị. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn theo dõi sát sao mọi biến động trên biển Đông và có cách ứng xử phù hợp để bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, chống đối nhiều lần đưa ra các thông tin sai lệch về thực tiễn, vu khống hoạt động bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Cùng với đó, các đối tượng cũng xuyên tạc một cách trắng trợn chủ trương, đường lối, chính sách liên quan đến việc bảo vệ chủ quyền trên biển Đông của Đảng, Nhà nước ta.

Nhiều đối tượng phản động, cơ hội chính trị núp dưới bóng đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền, bảo vệ Tổ quốc đã thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. Hệ quả là điều đối tượng đã bị đưa ra đứng trước vành móng ngựa, bị toà tuyên án. Tuy nhiên, với ý thức chống đối sâu sắc, các đối tượng trong tù kết hợp với các đối tượng chống đối ngoài nhà tù tiếp tục thực hiện không ít chiêu trò để đạt được mục đích chống phá Đảng, Nhà nước.

Tỉnh táo để thể hiện lòng yêu nước đúng nghĩa

Hiện nay, để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, các thế lực thù địch, chống đối đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”. Trong đó, thông tin - truyền thông được các đối tượng xác định là một mũi nhọn mang tính đột phá, khiến cho nước ta suy yếu, sụp đổ từ bên trong. Trong cuộc chiến thông tin, các thế lực chống phá cố tình đưa ra các dòng thông tin lệch chuẩn.

Thủ đoạn được các đối tượng thường xuyên sử dụng là lợi dụng các sự kiện nóng, các vấn đề nhạy cảm, những nội dung được đông đảo người dân quan tâm, để từ đó viết bài có nội dung xuyên tạc, kích động sự thù hằn, chống đối.

Khi viết bài, các đối tượng cố tình “múa bút” theo hướng biến mọi thứ trở nên ly kỳ, bí hiểm để kích động sự tò mò của người dân. Các đối tượng này cũng không quên việc “phỏng vấn”, trích lời các đối tượng cơ hội chính trị, những người tự xưng là “nhà dân chủ” để tiến hành chống phá. Sau đó, qua các kênh truyền thông, blog, mạng xã hội để lan truyền những thông tin này đến với người dân. Từ đó tác động đến nhận thức, tư tưởng của mọi người.

Với phương thức, thủ đoạn như trên, các đối tượng đã lừa dối không ít người dân, biến người dân trở thành “con rối” trong cái gọi là “phản kháng phi bạo lực” mà các đối tượng đang thực hiện. Để lòng yêu nước phát huy giá trị của mình, không bị các thế lực thù địch, chống đối lợi dụng vào việc gây bất lợi cho Tổ quốc, mỗi người dân phải thực sự tỉnh táo, bản lĩnh và có đủ hiểu biết để “gạn đục, khơi trong”, không mắc bẫy ma trận thông tin sai trái.

Trần Anh Tú

nguồn: cand.com.vn

Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                                  Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 19/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

 

Theo nhận định của nhiều chuyên gia quân sự, những gì đang diễn ra ở Syria hiện nay hoàn toàn không phải là “nội chiến” như một số phương tiện truyền thông phương Tây nhận xét mà là cuộc thử nghiệm một mô hình chiến tranh mới, được gọi là chiến tranh thế hệ thứ sáu.

Theo cách phân loại của các nước phương Tây, chiến tranh thệ hệ thứ sáu là loại hình chiến tranh tiếp theo năm thế hệ trước bao gồm:

1. Chiến tranh thế hệ thứ nhất ra đời trong kỷ nguyên vũ khí lạnh được đặc trưng bởi sự dàn trận của hai bên giao chiến theo tuyến.

2. Chiến tranh thế hệ thứ hai sử dụng chiến thuật hỏa lực và cơ động lực lượng như trong Chiến tranh thế giới lần thứ I.

3. Chiến tranh thế hệ thứ ba sử dụng chiến thuật cơ động trên phạm vi lớn của các binh đoàn chủ lực đột phá vào tuyến phòng ngự lớn của đối phương bằng các binh đoàn xe tăng và không quân mà điển hình là Chiến tranh thế giới lần thứ II.

4. Chiến tranh thế hệ thứ tư là chiến tranh bằng vũ khí hạt nhân, được thể hiện một phía trong vụ ném bom nguyên tử của Mỹ vào hai thành phố Hiroshima và Nawasaki của Nhật Bản năm 1945.

5. Chiến tranh thế hệ thứ năm là chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, hay còn gọi là chiến tranh công nghệ cao (High Technology War), được thể hiện trong các cuộc chiến tranh Vùng Vịnh năm 1990 – 1991; chiến tranh tại Kosovo năm 1999 và chiến tranh Iraq năm 2003.

6. Chiến tranh thế hệ thứ sáu có đặc trưng nổi bật là bên gây chiến sử dụng chủ yếu là các chủ thể phi chính phủ hoặc các công ty quân sự tư nhân của một hoặc nhiều nước làm công cụ thực hiện chiến tranh xâm lược, tập hợp dưới danh nghĩa “các lực lượng đối lập chống chính phủ” được hợp pháp hóa bằng các công cụ pháp lý quốc tế như Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc, Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc hoặc Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc.

Bên xâm lược thường ngụy trang chiến tranh thế hệ thứ sáu dưới tên gọi “nội chiến” để đánh lừa dư luận quốc tế. Bản chất của loại chiến tranh này là sự lừa gạt, vô nguyên tắc và tàn bạo. Đó chính là loại hình can thiệp quân sự của một nước hoặc một nhóm nước chống lại một nước khác, trong đó không có các đòn tiến công của các binh đoàn xe tăng, hạm đội và máy bay. Loại hình chiến tranh này là một “phát minh mới” của Lầu Năm góc nhằm giành chiến thắng trước một quốc gia khác mà không cần phải tiến hành can thiệp trực tiếp trên quy mô lớn. Tuy nhiên, không vì thế mà cuộc chiến này kém phần đẫm máu hoặc ít tàn bạo.

Quan niệm chiến tranh thế hệ thứ sáu lần đầu tiên do William Lind, chuyên gia quân sự Mỹ, đề xuất vào năm 1989. Về sau, khái niệm chiến tranh thế hệ thứ sáu còn bao gồm cả “cách mạng sắc màu” hay “cách mạng nhung”. Chính vì vậy, Đại sứ của Mỹ hiện nay ở Nga, ông Michael McFaul, cũng được liệt vào danh mục các tác giả của học thuyết về chiến tranh thế hệ thứ sáu, bởi ông là một trong các chuyên gia bậc thầy về việc sử dụng các cuộc nổi dậy phi bạo lực để lật đổ chính phủ hợp pháp của một quốc gia nào đó khi không đáp ứng lợi ích của Mỹ.

Về bản chất, chiến tranh thế hệ thứ sáu nhằm đè bẹp ý chí của dân chúng và bộ máy cầm quyền của một quốc gia, khiến họ không còn khả năng đối kháng. Xét về tiêu chí “chi phí/hiệu quả”, chiến tranh thế hệ thứ sáu được đánh giá rất cao thông qua việc sử dụng các thủ đoạn phá hoại mới để buộc quốc gia bị xâm lược phải tổn hao nguồn lực tài chính và quân sự trong khi phải đối phó với các hoạt động bạo loạn và khủng bố kéo dài, không ngừng nghỉ, sự hỗn loạn về kinh tế và xã hội ở trong nước dưới áp lực của cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý và tư tưởng nhằm vào dân chúng và chính phủ cho đến khi họ phải đầu hàng.

Để tiến hành chiến tranh thế hệ thứ sáu, bên gây chiến sử dụng kết hợp nhiều phương thức hành động rất đa dạng.

MỘT LÀ, sử dụng các băng đảng tội phạm, quân đánh thuê của các nước và mạng lưới khủng bố quốc tế tiến hành các hoạt động khủng bố hết sức tàn bạo để phá hoại các công trình dân sự và quân sự nhằm buộc người dân ở các khu vực bị tiến công phải khiếp sợ và chịu đầu hàng.

HAI LÀ, sử dụng chiến thuật chiến tranh du kích bằng các toán quân phá hoại từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn trên một khu vực lãnh thổ rộng lớn.

BA LÀ, sử dụng biện pháp phá hoại kết hợp với chiến tranh thông tin – tâm lý tàn phá có chủ đích nhằm vào các giá trị truyền thống lịch sử; làm băng hoại nền giáo dục, đạo đức, văn hóa và thẩm mĩ của dân chúng; biến các tầng lớp thanh niên thành những người không còn ý thức về các giá trị nhân bản, về tổ quốc, về quê hương xứ sở; chia rẽ hoàn toàn quốc gia bị xâm lược trên cả 4 lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự.

BỐN LÀ, áp dụng biện pháp chiến tranh pháp lý, nghĩa là tạo ra các “cơ sở luận chứng” như chính phủ sở tại “vi phạm nhân quyền” hoặc “không đáp ứng nguyện vọng của người dân” để biện minh cho các hành động can thiệp từ bên ngoài nhằm gây thiệt hại đối với bên bị tiến công; tiến hành các chiến dịch tuyên truyền rộng lớn nhằm giành giật sự thiện cảm và ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với hành động can thiệp, trong khi lại bao che và dung túng các hoạt động khủng bố, gây thiệt hại lớn đối với chính phủ của nước bị tiến công, thậm chí không công nhận chính phủ của một quốc gia được người dân bầu lên một cách dân chủ.

NĂM LÀ, áp dụng hình thức chiến tranh cường độ thấp trên lãnh thổ nước bị xâm lược với sự tham gia của bất kỳ lực lượng quân sự nào ở bên ngoài.

SÁU LÀ, tổ chức cuộc “cách mạng nhung” thông qua các hoạt động biểu tình phi bạo lực hoặc kết hợp với các hành động bạo lực, có sử dụng phổ biến công nghệ Internet.

Những gì đang diễn ra ở Syria là cuộc thử nghiệm điển hình mô hình chiến tranh thế hệ thứ sáu. Cái gọi là “nội chiến” ở Syria chỉ là lớp vỏ để che đậy hành động can thiệp từ bên ngoài dưới hình thức chiến tranh thế hệ thứ sáu.

Đây là cuộc can thiệp từ bên ngoài chống lại một quốc gia có chủ quyền và theo đuổi các mục đích hoàn toàn xa lạ với Hiến chương của Liên hợp quốc. Thí dụ điển hình là hành động của Israel tấn công các mục tiêu quân sự ngay giữa thủ đô Damas của Syria được một số nước phương Tây biện minh là “hành động tự vệ” và “Israel có quyền phòng vệ chính đáng” trước “nguy cơ an ninh từ phía Syria (!?). Theo nhận định của nhiều chuyên gia quân sự, một khi chiến tranh thế hệ thứ sáu được thử nghiệm thành công ở Syria, loại hình chiến tranh này sẽ được áp dụng để lật đổ chính quyền tại nhiều nước khác...

Theo TẠP CHÍ CỘNG SẢN

Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                                  Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 19/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

Từ tối ngày 17/8 đến nay trên mạng xã hội râm ran chuyện Việt Nam đưa tàu Quang Trung - 016 ra Tư Chính. Ryan Martinson - nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Đại học Hải chiến Mỹ tại Newport, Rhode Island, đưa lên trang cá nhân của mình thông tin và vị trí của chiến hạm Quang Trung.

Được biết, tàu 016 - Quang Trung là tàu hộ vệ tên lửa thứ tư thuộc lớp Gepard 3.9 được biên chế Lữ đoàn 162 (đơn vị tàu chiến đấu mặt nước hiện đại nhất của Quân chủng Hải quân). Tàu có chiều dài 102,4 m, rộng 14,7 m, mớm nước 5,6 m, lượng giãn nước toàn tải 2.200 tấn, tốc độ tối đa 29 hải lý/giờ (53 km/giờ), phạm vi hoạt động 7.000 km, thời gian hoạt động liên tục trên biển 20 ngày. Đây là loại tàu chiến có khả năng tàng hình, săn tàu ngầm, chống hạm, chống ngầm, chống các loại tàu chiến mặt nước, được trang bị các loại vũ khí tiên tiến nhất của Nga hiện nay. Trong đó, có tổ hợp pháo - tên lửa phòng không đa năng Palma, tổ hợp tên lửa Ural và trực thăng săn ngầm Ka-28. Chiến hạm có khả năng tiến công đa năng ba trong một (trên mặt nước, dưới nước và trên không), đặc biệt là khả năng chống ngầm.

Nhân thông tin này, nhiều tài khoản mạng xã hội đã ồn lên tin đồn “Tàu chiến hiện đại của Hải quân Việt Nam đã có mặt tại bãi Tư Chính để đối đầu với các tàu hải cảnh và kiểm ngư của Trung Quốc. Lần đầu tiên kể từ năm 1994, Việt Nam đã đưa tàu chiến ra đối đầu với các loại tàu của Trung Quốc”, “Nhà nước Việt Nam đã bắt đầu từ bỏ chính sách “ba không”... trực tiếp xuyên tạc chính sách nhất quán về quốc phòng, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta

Tuy nhiên, thông tin này chưa được các cơ quan hữu trách tại Việt Nam xác nhận.

Thời gian qua, theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng, Việt Nam đã giao thiệp với Trung Quốc, phản đối việc Trung Quốc tái diễn vi phạm nghiêm trọng, yêu cầu Trung Quốc rút toàn bộ nhóm tàu nói trên ra khỏi vùng biển của Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam theo UNCLOS và luật pháp quốc tế.

Bà Lê Thị Thu Hằng nêu rõ các lực lượng chức năng của Việt Nam tiếp tục triển khai các biện pháp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán theo đúng pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế. "Việt Nam cũng khẳng định hết sức coi trọng hòa bình, an ninh, thượng tôn pháp luật ở Biển Đông và thiện chí giải quyết các bất đồng thông qua các biện pháp hòa bình, luôn coi trọng và mong muốn thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Trung Quốc vì lợi ích của hai nước, nhân dân hai nước, và hòa bình, ổn định, an ninh khu vực và quốc tế, đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình. Việt Nam kêu gọi các nước có liên quan và cộng đồng quốc tế đóng góp tích cực vào duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông, khu vực và quốc tế" - Người phát ngôn nhấn mạnh.

Nhà báo Nguyễn Đức Hiển bình luận “. Mình nghĩ ko thể có chuyện đưa tàu chiến ra thực địa để mà mắc bẫy bạn Tàu. Nếu có, là một kiểu "đối ngoại quân sự" dưới hình thức tuần tra từ xa, thể hiện sự tăng cấp về thái độ phản ứng. Hơn nữa, ko ai lấy cái tàu săn ngầm diệt hạm hiện đại nhất ra thực địa xung đột, nơi chỉ có đâm va, để cản phá.”

Cờ đỏ TPHCM khẳng định, nếu có việc chúng ta điều tàu Quang Trung ra khu vực bãi Tư Chính thì cũng không bao giờ nhằm mục tiêu gây hấn để tạo cớ cho xung đột quân sự. Người dân cần cẩn trọng tìm hiểu thông tin chính thức từ các cơ quan chức năng, tránh lan tỏa các thông tin không đúng, tạo cớ cho kẻ xấu xuyên tạc, nói xấu Đảng và Nhà nước.

Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                                  Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 19/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

Ngày 16/8, trả lời câu hỏi của phóng viên Việt Nam và nước ngoài liên quan đến việc tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc trở lại hoạt động xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ:

“Theo thông tin của các cơ quan chức năng, ngày 13/8/2019, tàu khảo sát Hải Dương 8 và một số tàu hộ tống của Trung Quốc đã trở lại hoạt động xâm phạm vùng biển Việt Nam.

Đây là vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, được xác định theo các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Việt Nam đã giao thiệp với Trung Quốc, phản đối việc Trung Quốc tái diễn vi phạm nghiêm trọng, yêu cầu Trung Quốc rút toàn bộ nhóm tàu nói trên ra khỏi vùng biển của Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và luật pháp quốc tế.

Các lực lượng chức năng của Việt Nam tiếp tục triển khai các biện pháp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán theo đúng pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế.

Việt Nam cũng khẳng định hết sức coi trọng hòa bình, an ninh, thượng tôn pháp luật ở Biển Đông và thiện chí giải quyết các bất đồng thông qua các biện pháp hòa bình, luôn coi trọng và mong muốn thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Trung Quốc vì lợi ích của hai nước, nhân dân hai nước, và hòa bình, ổn định, an ninh khu vực và quốc tế, đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.

Việt Nam kêu gọi các nước có liên quan và cộng đồng quốc tế đóng góp tích cực vào duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông, khu vực và quốc tế”./.

(TTXVN/Vietnam+)

Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                                  Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 19/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

Cách đây 74 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam triệu người như một nhất tề vùng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Hào khí, tinh thần bất diệt của Cách mạng Tháng Tám đã hun đúc tinh thần quật khởi của dân tộc trong hơn 7 thập kỷ qua, đưa dân tộc Việt Nam vượt qua bao khó khăn thách thức, giành được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là sự thật hiển nhiên. Thế mà, hiện nay vẫn còn có kẻ tung ra luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả đó.  

Với ai từng sống trước Cách mạng Tháng Tám, hoặc sinh ra sau Cách mạng Tháng Tám nhưng từng xem những thước phim tư liệu, đọc sách lịch sử hoặc các tác phẩm văn học đều hình dung ra cuộc sống cơ cực của người dân Việt Nam dưới hai tròng áp bức, bóc lột là thực dân và phong kiến. Những chị Dậu, cái Tý, cái Bần, Chí Phèo, Thị Nở, lão Hạc, anh Pha... trong các tác phẩm của Ngô Tất Tố, Nam Cao… từng là nỗi ám ảnh của không ít người dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Nếu không có Đảng Cộng sản Việt Nam, không có Cách mạng Tháng Tám thì không biết những tháng ngày cùng cực ấy sẽ đeo bám người dân Việt Nam đến bao giờ? Vậy mà mới đây, vẫn có người phát biểu trên mạng xã hội rằng: “Nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”. Thật là trơ trẽn! Có lẽ, họ không biết hoặc cố tình không biết rằng, vào chính năm diễn ra cuộc Cách mạng Tháng Tám, nạn đói khủng khiếp đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu người, bằng khoảng 10% dân số của cả nước vào thời điểm ấy. Trong ký ức của nhiều người vẫn còn giữ lại hình ảnh những chiếc xe bò chở xác người, người chết đói la liệt ở khắp nơi... 95% dân số Việt Nam lúc đó không biết chữ...

Chỉ một ngày sau khi nước nhà tuyên bố độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (ngày 3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu 6 vấn đề cấp bách, trong đó cứu đói là một trong 6 nhiệm vụ hàng đầu và phong trào “diệt giặc đói” được triển khai ngay. Đến đầu năm 1946, tức là chỉ 4 tháng sau Cách mạng Tháng Tám, công tác đê điều đã hoàn thành. Đồng thời, với việc đắp đê, với khẩu hiệu “tấc đất, tấc vàng”, chính quyền và nhân dân cả nước ra sức cải tạo đất công cộng còn trống, như sân bãi, vỉa hè, bờ đê... để trồng trọt. Kết quả sản lượng hoa màu tăng gấp 4 lần so với thời kỳ Pháp thuộc. Giặc đói bị đẩy lùi. Cũng chỉ một năm sau ngày nước nhà độc lập, phong trào “diệt giặc dốt” đã xóa nạn mù chữ cho hơn 2,5 triệu người. Thử hỏi, nếu không có Cách mạng Tháng Tám, không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “giặc đói”, “giặc dốt” có bị đẩy lùi chỉ trong thời gian ngắn?

74 năm sau Cách mạng Tháng Tám, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam tiếp tục viết nên những trang chói lọi nhất. Chúng ta đã đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ với những chiến công lừng lẫy ghi vào lịch sử thế giới, như: Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh... Chúng ta còn làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng.

Về lĩnh vực kinh tế-xã hội, từ một đất nước bị tàn phá nặng nề do chiến tranh, Việt Nam đã nhanh chóng khôi phục cơ sở hạ tầng, ổn định đời sống nhân dân. Đặc biệt, trong hơn 30 năm qua, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đất nước đã ra khỏi nhóm quốc gia kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng cao hơn với mức bình quân của thế giới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) từng bước hình thành, phát triển. Chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa-xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ XHCN được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Những tháng đầu năm nay, trong bối cảnh kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng khá cao. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II-2019 tăng 6,71% so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2019 đạt mức tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,7%; 7 tháng năm nay, cả nước đã có 79,3 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 999,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6% về số doanh nghiệp và tăng 29,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, còn có 24,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 29,9% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 7 tháng năm nay là 743,9 nghìn người, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước...

Tại cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Takehiko Nakao và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc bên lề Hội nghị thượng đỉnh G20, đại diện của ADB đánh giá cao thành quả phát triển kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã được giữ vững trong những năm gần đây, với tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực đạt 6,76% trong nửa đầu năm 2019 và 7,1% trong năm 2018-tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong hơn một thập kỷ. Đại diện ADB nhận định, Việt Nam tiếp tục chứng tỏ tiềm năng mạnh mẽ trong duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trong bối cảnh quản lý tài khóa thận trọng, lạm phát ổn định, cán cân tài khoản vãng lai lành mạnh và dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài mạnh mẽ. Việt Nam cũng đang khẳng định vị trí của mình một cách hiệu quả trong các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu đang thay đổi.

Những con số biết nói trên đây khẳng định thành tựu của dân tộc Việt Nam sau 74 năm sống trong chế độ mới; đồng thời cũng là những bằng chứng không thể chối cãi được cho những người cố tình xuyên tạc thành quả cách mạng của Việt Nam.

Cũng như nhiều năm trước, năm nay, gần đến ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám-Ngày hội của dân tộc, một số người lại “đem chuyện cũ kể lại”, nhưng thực chất là xuyên tạc lịch sử. Họ cho rằng, Việt Nam giành được chính quyền là do “ăn may”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã tranh công, đổ tội”... Về vấn đề này, đã có nhiều học giả trong nước và nước ngoài phân tích, chứng minh thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám là kết quả của quá trình đấu tranh, hy sinh xương máu của toàn thể dân tộc Việt Nam suốt 15 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó còn là kết quả hơn 30 năm tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn dân Việt Nam đã phải chuẩn bị toàn diện thực lực cách mạng từ nhiều năm trước, chứ không phải là “ăn may” hay “tranh công” từ lực lượng khác.  

Lịch sử đã ghi nhận, ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính lật đổ chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam. Ngay tối hôm đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp và ngày 12-3-1945 ra Chỉ thị lịch sử “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Hội nghị quyết định phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước trong toàn quốc làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.   

Ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, nhận định thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền đã tới; Ủy ban khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1. Ngày 16-8-1945, “Quốc dân Đại hội Tân Trào” thông qua “10 Chính sách lớn của Việt Minh”; quyết định Quốc kỳ, Quốc ca và bầu Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ ngày 14-8 và đã giành thắng lợi trên cả nước, với ngày 19-8 ở Hà Nội, ngày 23-8 ở Huế, ngày 25-8 ở Sài Gòn... Như vậy, chỉ trong 15 ngày, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã làm nên cuộc cách mạng “long trời, lở đất".  

Đó là sự thật lịch sử! Chính Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối đúng đắn, phương pháp cách mạng sáng tạo đã nắm chắc, tận dụng thời cơ, biết tổ chức và tập hợp lực lượng, động viên được toàn dân tộc làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Đó còn là vai trò tiền phong, gương mẫu, bất chấp mọi hy sinh, gian khổ, quyết chiến đấu vì quyền lợi của Tổ quốc và nhân dân của hơn 5.000 đảng viên cộng sản. Họ là những chiến sĩ cách mạng kiên trung, bất khuất, một lòng một dạ vì nước, vì dân, kiên quyết lãnh đạo cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân để xây dựng nhà nước kiểu mới, nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Những thành tựu to lớn của Việt Nam trong hơn 7 thập kỷ qua kể từ ngày Cách mạng Tháng Tám đang tạo ra những tiền đề quan trọng để Việt Nam tiếp tục đổi mới và phát triển. Nhân dân Việt Nam từng chịu đựng biết bao mất mát, đau thương trong chiến tranh, trong thiên tai và đã chịu đựng nỗi khổ đến tận cùng khi bị giặc ngoại xâm đô hộ. Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”. Nhưng, chúng ta cũng không thể làm ngơ trước hành động của một số ít người xuyên tạc lịch sử, “đổi trắng thay đen”, với những dã tâm thâm độc nhằm phủ nhận thành quả của cuộc cách mạng của dân tộc. Xuyên tạc thành tựu Cách mạng Tháng Tám mang lại là có tội với lịch sử, có tội với dân tộc, với nhân dân, với tổ tiên.

 ĐỖ PHÚ THỌ

(Theo QĐND)

Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                                  Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 18/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

Đây là tổ chức từ thiện xã hội được toàn thế giới và nhà nước công nhận. Là đơn vị tiếp nhận các nguồn cứu trợ, tại trợ và là nơi hỗ trợ, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo trong xã hội không phân biệt địa lý, tôn giáo và dân tộc.

Khi có nhu cầu cần liên hệ vui lòng liên hệ trực tiếp hoặc gọi điện thoại số: (08) 39491383

 

Thành viên Ban biên tập

Tổng biên tập chịu trách nhiệm xuất bản:
Đỗ Văn Ánh - PCT Hội CTĐ Quận
Điện thoại: 0909 349 533

Tổng hợp & thư ký:
1/ Vũ Thị Hồng Gấm
2/ Nguyễn Thị Kiều Oanh

Kỹ thuật và bảo trì:
1/ Nguyễn Đức Cường
(0168 992 3979)