Sáng thứ bảy ngày 11 tháng 5 năm 2019, Ban chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện phường 1 tổ chức ngày Hội hiến máu tình nguyện lần 1 năm 2019.   

image003
image001
image004
image005
image006

          Đến dự ngày hội hiến máu tình nguyện có ông Phạm Văn Hải Đăng – Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình, ông Bùi Hoàng Lộc – Phó Chủ tịch UBND, Trưởng Ban chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện phường 1 cùng đại diện các Ban, ngành đoàn thể trong phường và các chi hội Chữ thập đỏ các khu phố trong phường.

          Với thông điệp “Mỗi giọt máu cho đi – Một cuộc đời ở lại”, Ngày hội thu hút được nhiều tình nguyện viên, sinh viên, người dân trên địa bàn phường đăng ký tham gia. Qua ngày hội, Trung tâm hiến máu thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận được 94 ca (250ml: 26 ca; 350ml: 57 ca; 450ml: 11 ca)

         Đây là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện nghĩa cử cao đẹp của nhân dân, đồng thời là dịp giáo dục truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc, là tiền đề cho phong trào hiến máu tình nguyện có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn nữa trong cộng đồng dân cư.

                                                                    CTV – NGUYỄN ĐẠT NGHIỆP

       Vào lúc 8 giờ sáng ngày 08 tháng 5 năm 2019, Tại Hội trường UBND Phường 15, số 822 Trường Chinh, quận Tân Bình. Hội Chữ thập đỏ phường 15 tổ chức Lễ phát động Tháng nhân đạo với chủ đề “Kết nối, sẻ chia và lan tỏa”; Kỷ niệm ngày Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế 8/5/2019.

       Đến tham dự buổi họp mặt có sự hiện diện của Ông Phạm Văn Hải Đăng – Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình; Bà Phạm Thị Thành – Quận ủy viên, Bí thư Đảng ủy phường, cùng các ông bà Trưởng Phó các Ban ngành đoàn thể phường, các ông bà là Bí thư chi bộ, Khu phố trưởng,Trưởng Phó Ban công tác Mặt trận các Khu phố, các nhà hảo tâm và hơn 100 Cán bộ Hội viên Hội Chữ thập đỏ.

201905080753590
20190508081706
20190508081713
20190508082411
20190508090437

       Trong không khí trang trọng của buổi lễ kỷ niệm, Bà Chu Thị Mai – Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Phường đã phát động Tháng nhân đạo năm 2019 với chủ đề: “Kết nối, sẻ chia và lan tỏa”.

       Tiếp theo chương trình Ông Lê Văn Phước đọc và trao Quyết định kết nạp 12 Hội viên, 07 tình nguyện viên mới năm 2019. Sau đó là phần tặng 10 phần quà và tiền cho 10 hộ nghèo và bệnh nan y trong phường, trị giá 5.000.000 đồng.

      Sau phần Lễ phát động Tháng nhân đạo, Bà Phạm Thị Thành – Bí thư Đảng ủy phường tuyên truyền Chỉ thị 19 – CT/TU của Thành Ủy và kế hoạch số 57/KH- ĐU của Đảng ủy phường về thực hiện cuộc vận động “Người dân thành phố Hồ Chí Minh không xả rác ra đường và kênh rạch, vì thành phố sạch và giảm ngập nước”.

      Tiếp theo, Ông Phạm Văn Hải Đăng – Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình báo cáo tuyên truyền một số nội dung công tác Hội như: Luật hoạt động Chữ thập đỏ Việt Nam; Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác; Hiến giác mạc; Hiến máu tình nguyện, tuyên truyền hiến túi máu 350 – 450ml; Kỹ năng tuyên truyền vận động trong cộng đồng dân cư cho hơn 100 cán bộ hội viên của Hội Chữ thập đỏ phường.

     Buổi lễ phát động Tháng nhân đạo và Kỷ niệm ngày Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế 8/5/2019 đã diễn ra thành công tốt đẹp và kết thúc vào lúc 11 giờ 00 phút cùng ngày.                                                 

 

                                                                                   CTV – CHU THI MAI

BỮA ĂN NHÂN ÁI

08 05 2019
12 lần

image003

Thiết thực chào mừng Tháng nhân đạo năm 2019; chào mừng ngày Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế 8/5. Vào lúc 11 giờ ngày 07/5/2019 tại sân trước UBND phường 2, Hội Chữ thập đỏ phường phối hợp với Hội LHPN, Hội LHTN phường tổ chức Ngày vì cộng đồng với chủ đề "Bữa ăn nhân ái cho hội viên, nhân dân khó khăn trên địa bàn phường” với ý nghĩa kết nối sẻ chia và lan tỏa. Qua đó đã phát hơn 100 phần ăn gồm mì xào + 1 hộp sữa (trị giá 2.200.000 đồng) cho bà con khó khăn trên địa bàn phường.

HỘI CHỮ THẬP ĐỎ PHƯỜNG 2

I. HOÀN CẢNH, NỘI DUNG, GIÁ TRỊ, Ý NGHĨA CỦA DI CHÚC

1. Hoàn cảnh và quá trình viết Di chúc

- Nhân dịp sinh nhật lần thứ 75, vào lúc 9 giờ 00, ngày 10 tháng 5 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết những dòng đầu tiên của bản Di chúc. Đến ngày 15 tháng 5, bản Di chúc đầu tiên này hoàn thành, dài gần 3 trang, do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh máy, có chữ ký của Người và chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn - lúc đó là Bí Thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ ngày 10 tháng 5 năm 1965 đến lúc kết thúc viết Di chúc ngày 10 tháng 5 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung và viết lại. Năm 1966 và 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh không có bản viết riêng, chỉ có hai bản bổ sung vào Di chúc năm 1965. Năm 1968, Người viết bổ sung một đoạn gồm 06 trang viết tay, ngày 10 tháng 5 năm 1969 viết lại toàn bộ phần mở đầu Di chúc, gồm 01 trang viết tay.

- Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên được công bố trong Lễ tang của Người tháng 9 năm 1969, gồm 4 trang in khổ 14,5 cm x 22 cm. Ngày 19 tháng 8 năm 1989, Bộ Chính trị ra Thông báo số 151-TB/TW về một số vấn đề liên quan đến Di chúc và ngày qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định Di chúc công bố chính thức năm 1969 đảm bảo trung thành với bản gốc của Người. Nội dung chủ yếu dựa theo bản Bác Hồ viết năm 1965, trong đó đoạn mở đầu là của bản viết năm 1969, đoạn về việc riêng là của bản viết năm 1968. Lúc đầu, vì những lý do nhất định, nên một số vấn đề trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa được công bố, như: Việc căn dặn của Người về hỏa táng thi hài; việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi; miễn giảm thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp... Trong dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) đã quyết định công bố toàn bộ các bản viết Di chúc của Người.

- Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta ở vào giai đoạn ác liệt, song đang trên đà thắng lợi, đòi hỏi sự đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hai miền Nam - Bắc với niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng.      Đế quốc Mỹ sau thất bại trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", chúng tiến hành chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, đồng thời leo thang "Chiến tranh phá hoại" miền Bắc lần thứ nhất; Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) tháng 3 năm 1965 đã quyết tâm chiến thắng giặc Mỹ xâm lược. Sau khi đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, chúng ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, buộc đế quốc Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pari.

Vào thời điểm này, mặc dù trí tuệ còn minh mẫn, tinh thần còn sáng suốt nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh tự cảm nhận sức khỏe của mình đã có phần giảm sút so với những năm trước, khó đoán biết còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ Nhân dân được bao lâu nữa.

2. Nội dung cốt lõi của Di chúc

- Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Đảng, nhấn mạnh truyền thống đoàn kết trong Đảng; yêu cầu thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình; mỗi cán bộ đảng viên phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; giữ gìn Đảng ta thật trong sạch.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về đoàn viên thanh niên, nhấn mạnh vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; khẳng định đây là đội hậu bị của Đảng, là người chủ tương lai của đất nước; yêu cầu Đảng phải chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho họ.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Nhân dân lao động: Người cho rằng, Nhân dân lao động bao đời chịu đựng gian khổ, bị nhiều áp bức bóc lột của phong kiến, thực dân; Nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù, luôn đi theo và rất trung thành với Đảng. Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh dự báo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài nhưng nhất định thắng lợi thuộc về Nhân dân ta; Người căn dặn sau khi kháng chiến thắng lợi, chúng ta ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển đất nước; Đảng và Nhà nước phải quan tâm chăm lo tới mọi đối tượng trong xã hội, đem lại ấm no hạnh phúc cho Nhân dân.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về phong trào cộng sản thế giới: Mong muốn các đảng anh em đoàn kết, giúp đỡ, bảo vệ lẫn nhau, nâng cao tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản; Người đau lòng trước những bất hòa giữa các đảng anh em.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về một số việc riêng: Liên quan đến hậu sự của Người, căn dặn chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của Nhân dân; căn dặn hỏa táng thi hài để vừa tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh nói lên mong muốn cuối cùng trước lúc đi xa là mong muốn toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam     hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

3. Giá trị cơ bản của Di chúc

3.1. Di chúc là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, Nhân dân và sự nghiệp cách mạng

- Di chúc thể hiện sự tự nhận thức sâu sắc về bản thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đón nhận quy luật cuộc sống bằng phong thái ung dung, tự tại, chuẩn bị việc ra đi của mình bằng những lời tâm huyết dặn lại. Tâm nguyện của Người: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ Nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Ý chí, niềm tin, tinh thần lạc quan cách mạng, trách nhiệm với Nhân dân của Người thể hiện sâu sắc ở dự báo về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và ngày thống nhất đất nước, ở những chỉ dẫn về công việc của sự nghiệp cách mạng còn dang dở. Di chúc là tâm sự của một người đã suốt đời hy sinh hạnh phúc riêng tư, hiến dâng trọn cuộc đời cho Tổ quốc và Nhân dân; là tấm lòng chung thủy với “các nước anh em” và “bầu bạn khắp năm châu”.

3.2. Di chúc là công trình lý luận về xây dựng và củng cố Đảng cầm quyền

- Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng ta là Đảng cầm quyền”. Để đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo xã hội, Đảng phải luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và gắn bó máu thịt với Nhân dân, không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình. Di chúc nêu những vấn đề cốt yếu của công tác xây dựng Đảng, đó là: Giữ gìn mối đoàn kết trong Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng phục vụ Nhân dân của mỗi cán bộ, đảng viên. Công tác chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ chiến lược, là công việc thường xuyên để giữ vững vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.

- Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp bền bỉ, dài lâu, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đảng cầm quyền phải chăm lo phát triển lực lượng cho hiện tại và chuẩn bị cho tương lai một thế hệ trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên”, có như vậy mới thực hiện thành công lý tưởng xây dựng một xã hội mới, tiến bộ, văn minh. Bác dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”, đó là công việc bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đào tạo nguồn nhân lực kế tục sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa.

- Cách mạng Việt Nam không thể tách rời cách mạng thế giới. Sự vững mạnh của Đảng còn được khẳng định trong mối quan hệ đoàn kết chặt chẽ với các đảng cộng sản và bè bạn quốc tế. Điều Bác dặn trong Di chúc “Về phong trào cộng sản thế giới” chỉ dẫn định hướng quan trọng cho quan hệ đối ngoại của Đảng, đó là nguyên tắc đoàn kết quốc tế dựa trên “nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình”.

3.3. Di chúc là tác phẩm bàn về xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, là phác thảo lý luận sự nghiệp đổi mới ở nước ta

- Di chúc là điểm kết tinh tư tưởng của Bác về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, mối quan hệ giữa công bằng và tiến bộ xã hội, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa trong xây dựng xã hội mới, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh thời đại, động lực lợi ích và chăm lo chu đáo cuộc sống con người, tư tưởng trọng dân, coi dân là gốc, là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước.

- Di chúc như một kế hoạch, một chương trình hành động của toàn Đảng, toàn dân về sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh với những chỉ dẫn về quản lý xã hội như: Đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; sửa đổi chế độ giáo dục cho phù hợp hoàn cảnh mới; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; phát triển công tác vệ sinh, y tế; chính sách miễn thuế nông nghiệp cho nông dân; chính sách xã hội, công bằng xã hội.

- Giá trị văn hóa của Di chúc rất lớn lao, trong đó Bác chỉ dẫn con đường, mục tiêu phát triển của nền văn hóa Việt Nam; trù tính, dự liệu về những cuộc vận động giáo dục văn hóa trong toàn dân, toàn xã hội, lấy văn hóa chính trị của Đảng Cộng sản cầm quyền và văn hóa trong thể chế nhà nước - một nhà nước dân chủ pháp quyền của dân, do dân, vì dân làm sức mạnh tiêu biểu nêu gương thuyết phục Nhân dân. Qua lời dặn dò về việc riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến việc xây dựng một đời sống văn hóa mới; một lối sống tiết kiệm, không lãng phí; mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, môi trường sinh thái.

- Di chúc phác thảo những vấn đề quan trọng của sự nghiệp đổi mới đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đổi mới là một tất yếu để phát triển; đổi mới là một cuộc đấu tranh bền bỉ, một quá trình xây dựng gian khổ, "là một công việc cực kỳ to lớn, nặng nề và phức tạp”, là “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ,     hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Người yêu cầu, Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân.

- Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện nước ta phải đặc biệt chú trọng phát huy khả năng sáng tạo của dân, “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

4. Ý nghĩa của Di chúc

- Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện có giá trị vô cùng to lớn đối với quá trình cách mạng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ta trên nhiều phương diện, nó vạch ra phương hướng cho cách mạng Việt Nam cả hôm nay và trong tương lai, đặc biệt là quan hệ với các Đảng Cộng sản anh em, các nước xã hội chủ nghĩa. Ở vấn đề này, khi hệ thống chủ nghĩa xã hội có nhiều biến đổi, nhất là những diễn biến phức tạp trong khu vực và thế giới gần đây càng cho chúng ta thấy Di chúc của Người có ý nghĩa thời sự sâu sắc.

- Di chúc vừa là văn kiện của một nhà chính trị lớn, lãnh tụ cao nhất của Đảng và dân tộc, Người đã sáng tạo ra thời đại mới, “thời đại Hồ Chí Minh”, thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam; vừa là tác phẩm nghệ thuật tầm cỡ của một nhà văn hóa lớn. Đây là sự phản ánh thống nhất, cô đọng nhất về toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh; thể hiện phẩm chất đạo đức sáng ngời suốt đời phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc và Nhân dân của người chiến sĩ cộng sản kiệt xuất; thể hiện mong muốn cuối cùng của Người.

- Di chúc thể hiện cô đọng và sâu sắc những tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Người đã căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta những việc to lớn, hệ trọng, cần làm sau khi đất nước thống nhất.

II. NHỮNG THÀNH TỰU TO LỚN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM QUA 50 NĂM THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA NGƯỜI

1. Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chuẩn bị điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội

- Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975 là điểm mốc quan trọng, là bước ngoặt thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, kết thúc 21 năm chiến đấu chống Mỹ và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở nước ta, hoàn thành cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân trong cả nước, bảo vệ và phát triển những thành tựu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện điều mong mỏi trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".

 

 

2. Từng bước thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho Nhân dân

- Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã tập trung sức lực và trí tuệ lãnh đạo Nhân dân tiến hành công cuộc cách mạng đưa cả nước đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn. Mặc dù tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp, vừa phải thường xuyên đối phó với những âm mưu chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, vừa phải xây dựng cuộc sống mới từ một nền kinh tế lạc hậu, bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, vừa phải làm nghĩa vụ quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta đã phấn đấu vượt qua khó khăn gian khổ và thu được những kết quả hết sức quan trọng là khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh; xây dựng một số cơ sở vật chất; phát triển được một số ngành kinh tế quan trọng; thiết lập và củng cố chính quyền Nhân dân trên phạm vi cả nước; phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế; tiến hành thắng lợi hai cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới.

- Tuy vậy, trong xây dựng kinh tế, ta cũng đã từng phạm những sai lầm, khuyết điểm lớn trong chủ trương, chính sách cũng như trong quá trình chỉ đạo thực tiễn. Nhưng Đảng sớm nhận thức tình hình đất nước, bối cảnh quốc tế, trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, kiên định mục tiêu, con đường Bác Hồ đã chọn, thẳng thắn phân tích những nguyên nhân của sự vấp váp, sai lầm, tin tưởng vững chắc vào sức mạnh của Nhân dân và dân tộc, Đảng ta đã khởi xướng đường lối đổi mới và quyết tâm tiến hành sự nghiệp đổi mới vì hạnh phúc của Nhân dân.

- Công cuộc đổi mới ở nước ta hơn 30 năm qua đã đạt được những thành tựu     to lớn. Về kinh tế, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các tầng lớp Nhân dân không ngừng được cải thiện; thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành; cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, giữa tiến bộ và công bằng xã hội; công tác giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tốt; sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp; khoa học công nghệ và tiềm lực khoa học - công nghệ có bước phát triển nhất định; công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân có tiến bộ; những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc được kế thừa và phát triển, giao lưu hợp tác văn hóa với nước ngoài được mở rộng, các tài năng văn hóa - nghệ thuật được khuyến khích; chính sách phát triển nguồn nhân lực được chú trọng; quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ, vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng cao...

3. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; thực hiện công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng

- Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà chiến lược và sách lược tài tình, nhà tổ chức thiên tài, nhà cổ động chính trị vĩ đại, người có công rèn luyện, giáo dục bao lớp cán bộ ưu tú của Đảng. Người đã đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội lần thứ VII của Đảng, Đảng ta đã khẳng định cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.

- Thực hiện Di chúc của Người, trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới rất nặng nề, các thế lực tấn công toàn diện vào Đảng, vào chế độ, Đảng ta vẫn vững vàng, thể hiện rõ bản chất cách mạng và khoa học, kiên định về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo Nhân dân ta thực hiện công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu to lớn, quan trọng, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên.

- Công tác xây dựng Đảng đã được đặt ra trong nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Tiếp theo Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Đảng ta đã ban hành Chỉ thị 06-CT/TW, ngày 07 tháng 11 năm 2006 của Bộ Chính trị về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14 tháng 5 năm 2011 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15 tháng 5 năm 2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) ngày 16 tháng 01 năm 2012 một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) ngày 30 tháng 10 năm 2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sau thời gian triển khai thực hiện, các cấp ủy đã quan tâm nhiều hơn đến việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý tiêu cực, sai phạm; tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên có tiến bộ; việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo tấm gương của Bác Hồ đã có chuyển biến;        tinh thần, thái độ phục vụ Nhân dân, ý thức trách nhiệm với công việc được giao của cán bộ được nâng lên; góp phần khắc phục từng bước tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

- Công tác xây dựng Nhà nước đã quán triệt nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, thực hành dân chủ, phát huy tính sáng tạo của nhân dân; tham khảo và vận dụng có chọn lọc lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân loại vào điều kiện cụ thể Việt Nam, đảm bảo phù hợp với dân tộc, thời đại và hoàn cảnh thực tiễn của đất nước. Kết quả của công tác xây dựng Đảng nói riêng, xây dựng hệ thống chính trị nói chung là nhân tố góp phần làm nên thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam và sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời gian qua.

4. Phát huy tình cảm quốc tế trong sáng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nâng cao vị thế đất nước trong hội nhập quốc tế

- Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, ngay từ khi ra đời đã giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa quốc tế vô sản, đề ra nhiệm vụ đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới, với các dân tộc bị áp bức, coi đó là một nguyên tắc, một trong những nhân tố quyết định thành công của cách mạng nước ta. Bằng những việc làm vô tư trong sáng trong việc giúp đỡ bạn bè, cùng với việc không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với tất cả các nước, thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, là đối tác và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Vai trò vị trí quốc tế của nước ta ngày càng lớn, uy tín nước ta ngày càng cao trong cộng đồng quốc tế.

- Từ sau khi phá bỏ chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ và các lực lượng thù địch nước ngoài, Việt Nam đã tham gia hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực, mở rộng quan hệ ngoại giao với trên 180 nước, quan hệ kinh tế thương mại với trên 200 nước và vùng lãnh thổ; là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế (ASEAN, ASEM, APEC, WTO...); tích cực tham gia giải quyết những vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước liên quan, góp phần giữ vững môi trường hòa bình khu vực và thế giới.

5. Những kết quả đã đạt được của thành phố Hồ Chí Minh qua 50 năm thực hiện Di chúc của Bác

5.1. Bằng tình cảm thiêng liêng với Bác Hồ, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, ý chí tiến công cách mạng, bám sát thực tiễn, kiên trì và quyết liệt, đặc biệt hơn 30 năm cùng cả nước tích cực thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 2019) đã xây dựng và phát triển một thành phố Hồ Chí Minh “năng động, sáng tạo, văn minh, hiện đại, nghĩa tình”, trở thành đô thị đặc biệt, là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, là động lực, nơi hội tụ và sức lan tỏa lớn      không chỉ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam mà còn của cả nước.

- Kinh tế thành phố luôn tăng trưởng ở mức cao trong nhiều năm liên tục. Giai đoạn 1991 - 1995 tăng 12,6%; giai đoạn 1996 - 2000 tăng 10,1%; giai đoạn 2001 - 2005 tăng 11%; giai đoạn 2006 - 2010 tăng 11,4%; giai đoạn 2011 - 2015, GDP thành phố tăng bình quân 9,6%/năm, gấp 1,66 lần mức tăng bình quân 5,8% của cả nước; giai đoạn 2016 - 2018 tăng 8,2%/năm và gấp 1,3 lần bình quân cả nước. Đóng góp thu ngân sách của thành phố vào ngân sách cả nước năm sau cao hơn năm trước, năm 2011 chiếm 27,7%, năm 2014 chiếm 30%, tăng gấp 2 lần giai đoạn 2006 - 2010, năm 2018 tiếp tục là địa phương đóng góp lớn nhất cho ngân sách cả nước 27%. Thu nhập bình quân đầu người tăng hàng năm, giai đoạn 1995 - 1996 là 712 USD; giai đoạn 1996 - 2000 là 1.004 USD; giai đoạn 2001 - 2005 là 1.656 USD; giai đoạn 2006 - 2010 là 3.199 USD; giai đoạn 2011 - 2013 là 4.517 USD/người và năm 2017 tăng lên 5.945 USD/người. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 7,6%/năm; trong đó, bốn ngành công nghiệp trọng yếu (cơ khí chế tạo, điện tử, hóa chất - cao su - nhựa và chế biến tinh lương thực thực phẩm) tăng 10,3%/năm. Qua đó, công nghiệp đóng góp 20,5% vào cơ cấu và khoảng 1,5 điểm phần trăm cho tăng trưởng kinh tế Thành phố. Ngoài ra, ngành công nghiệp thành phố đóng góp 32,3% sản lượng công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và 16% quy mô công nghiệp cả nước. Thành phố tiếp tục thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, hiệu quả, bền vững theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học. Giá trị sản xuất tăng bình quân giai đoạn 2016 - 2017 đạt 5,6%/năm. Giá trị sản xuất bình quân trên ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2017 đạt 450 triệu đồng/ha, giai đoạn 2015 - 2017 tăng bình quân 11,5%.

- Giữ vững ổn định chính trị, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của thành phố. Thành phố luôn giữ vững ổn định chính trị, không để xảy ra điểm nóng, tình huống mất ổn định, kể cả khi tình hình trong nước có nhiều khó khăn, thế giới có những diễn biến phức tạp. Đây là một trong những thành tựu nổi bật, vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của quá trình phát triển, thể hiện năng lực lãnh đạo, sự kiên định và quyết tâm của Đảng bộ và Nhân dân thành phố trong thực hiện đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự ổn định chính trị với nền tảng là an dân thực sự là cơ sở chính trị quan trọng để thành phố Hồ Chí Minh dám nghĩ, dám làm, đi đầu cùng cả nước, vì cả nước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao vai trò của Thành phố với cả nước và các thành phố lớn trong khu vực và trên thế giới.

- Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch và phát triển đô thị có nhiều tiến bộ, đã thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quá trình phát triển thành phố theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa luôn gắn với quy hoạch, quản lý quy hoạch, phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ đã làm cho đô thị thành phố có nhiều thay đổi, phát triển vượt bậc; đã tập trung các nguồn lực triển khai thực hiện công tác quy hoạch đô thị, quy hoạch các khu công nghiệp, khu chế xuất, quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, hình thành các trục xuyên tâm, trục Bắc Nam, đường vành đai, các tuyến metro, đường trên cao… Thành phố đang tập trung triển khai xây dựng thành phố thông minh, khu đô thị sáng tạo phía Đông thành phố, có nhiều giải pháp khởi nghiệp sáng tạo. Đây là các giải pháp quản lý, tạo môi trường và điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững           cho Thành phố. Khu đô thị sáng tạo phía Đông thành phố (quận 2, 9 và Thủ Đức) là hạt nhân lan tỏa của Thành phố trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. 

- Đời sống Nhân dân được cải thiện, thu nhập từng bước được nâng lên. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài mục đích phục vụ lợi ích của Nhân dân, không ngừng nâng cao chất lượng sống của Nhân dân. Đảng bộ thành phố đã dựa vào Nhân dân để phát động các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và chăm lo, cải thiện, nâng cao đời sống Nhân dân; thành phố phấn đấu cơ bản hoàn thành xây dựng nông thôn mới; nơi khởi xướng và thực hiện tốt các phong trào xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, chương trình bảo trợ bệnh nhân nghèo; chăm lo cho công nhân, người lao động... mang lại kết quả thiết thực, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sinh động bản chất tốt đẹp của chế độ.

+ Hoàn thành trước 2 năm mục tiêu cơ bản không còn hộ nghèo giai đoạn 2016 - 2020; cuối năm 2015, thành phố ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2016 - 2020 với tiêu chí thu nhập cao gấp 1,95 lần chuẩn nghèo quốc gia và tiêu chí đa chiều phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và đặc điểm dân cư thành phố. Cả hệ thống chính trị của thành phố cùng chung tay thực hiện giảm nghèo; huy động hiệu quả nguồn lực của các tầng lớp xã hội, của các thành phần kinh tế trên địa bàn, nguồn vốn ưu đãi tập trung hỗ trợ cho vay đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ vừa vượt chuẩn cận nghèo đạt trên 3.000 tỷ đồng. Kết thúc năm 2018, công tác giảm nghèo đã đạt mốc quan trọng khi trong giai đoạn năm 2016-2018 có hơn 59.600 hộ nghèo vượt chuẩn nghèo và hơn 58.300 hộ cận nghèo vượt chuẩn cận nghèo. Từ kết quả trên, thành phố Hồ Chí Minh điều chỉnh mức chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo thành phố giai đoạn 2019 - 2020. Theo đó tiêu chí thu nhập hộ nghèo bình quân 28 triệu đồng/người/năm trở xuống và mức chuẩn hộ cận nghèo có thu nhập trên 28 triệu đồng đến 36 triệu đồng/người/năm. Như vậy, công tác giảm nghèo của thành phố bước sang chặng đường mới với mục tiêu cao hơn, khó khăn hơn nhưng để ngày càng nâng cao chất lượng đời sống người dân thành phố.

+ Các lĩnh vực văn hóa, thể dục - thể thao, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, an toàn thực phẩm, đảm bảo an sinh xã hội đạt kết quả và có sự chuyển biến tích cực. Tổ chức thực hiện nhiều hoạt động văn hoá vui chơi, lành mạnh nhận được sự hưởng ứng của các tầng lớp Nhân dân và được đánh giá cao. Tỷ lệ trường trung học thực hiện giáo dục thể chất trong nhà trường luôn đạt 100%. Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” tiếp tục được triển khai hiệu quả. Nếp sinh hoạt, tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đã trở thành thói quen của khá đông người dân thành phố. Chất lượng giáo dục ở các cấp học, ngành học được nâng cao; tính đến nay toàn thành phố có 223 trường đạt chuẩn quốc gia ở tất cả      các cấp học, bậc học. Thực hiện hiệu quả Đề án giảm tải ở Bệnh viên thông qua      chương trình hành động “Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và giảm tải bệnh viện”. Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm được tăng cường với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, góp phần nâng cao nhận thức về đảm bảo an toàn thực phẩm của chủ cơ sở kinh doanh, sản xuất và người tiêu dùng.

- Năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền được nâng lên, kỷ cương được tăng cường. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ không ngừng được nâng cao là nhân tố hàng đầu bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố. Đảng bộ thành phố không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, đảm bảo vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội, bồi đắp cho sự gắn bó máu thịt của Nhân dân với Đảng, phát huy và khơi dậy truyền thống năng động, sáng tạo của Nhân dân để xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố.

+ Chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhiều tổ chức cơ sở đảng được nâng lên, lãnh đạo giải quyết kịp thời nhiều vấn đề khó khăn, bức xúc của Nhân dân. Chất lượng sinh hoạt chi bộ được nâng cao, tình trạng đơn điệu, nể nang, né tránh, qua loa được khắc phục. Đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên được cải tiến, thực chất. Công tác bồi dưỡng, giáo dục, phát triển đảng viên tạo chuyển biến tích cực cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng; số tổ chức cơ sở đảng có kết nạp đảng viên, số đảng viên trẻ tuổi, đảng viên nữ và đảng viên là học sinh, sinh viên,… được kết nạp đều tăng. Công tác cán bộ được tập trung chỉ đạo đạt kết quả thiết thực ở tất cả các khâu. Công tác quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ thực hiện đúng quy trình, công khai, đạt hiệu quả rõ rệt; việc đào tạo, tăng cường cán bộ trẻ tuổi, cán bộ nữ, cán bộ xuất thân từ công nhân về cơ sở tiếp tục được thực hiện tốt gắn với các chương trình đào tạo cán bộ của thành phố. Tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước từng bước được củng cố, kiện toàn, sắp xếp, khắc phục sự trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị, trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm phục vụ Nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

- Dân chủ được mở rộng, vai trò của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội được phát huy. Thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân là một trong những thành tựu quan trọng. Thành phố tích cực thực hiện sáng tạo nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy quyền làm chủ của     Nhân dân. Dân chủ trong Đảng, trong hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội được nâng lên. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng với đảng bộ và chính quyền các cấp chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của  Nhân dân, vận động nhân Nân tham gia đóng góp xây dựng Đảng, chính quyền, tăng cường mối quan hệ máu thịt của Đảng với Nhân dân.     

5.2. Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quí giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta giành thắng lợi. Phát huy những kết quả đã đạt được sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, và nay là Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07 tháng 6 năm 2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp và Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19 tháng 12 năm 2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề bức xúc, nổi cộm của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, các chương trình đột phá của thành phố.

- Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp bước đầu đạt một số kết quả thiết thực; nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân tiếp tục nâng lên, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên, tự nguyện, tự giác trong hoạt động hàng ngày. Nhiều nơi việc học tập và làm theo Bác Hồ đã trở thành động lực, tiêu chí đánh giá, thành biểu hiện cụ thể về hành vi, lời nói, ứng xử chuẩn mực hàng ngày trong giải quyết công việc, trong mối quan hệ với đồng nghiệp và Nhân dân, góp phần hạn chế các vi phạm, ngăn ngừa nhũng nhiễu, phiền hà cho người dân.

- Các cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, đơn vị đã quan tâm công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động, tích cực triển khai thực hiện việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, tích cực xây dựng và nghiêm túc thực hiện kế hoạch cá nhân       học tập và làm theo Bác. Các cấp ủy gắn việc thực hiện học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với công tác xây dựng Đảng, thực hiện nhiệm vụ chính trị, tăng cường tiếp xúc đối thoại, giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm    ở địa phương, cơ quan, đơn vị và những vấn đề lớn của thành phố. Đặc biệt, học tập và làm theo Bác, cả hệ thống chính trị thành phố đang tập trung cao độ, với khí thế và tinh thần tiến công, phấn khởi và thận trọng, trách nhiệm và cầu thị, sáng tạo và cầu tiến, tập trung toàn bộ trí tuệ và phát huy mọi nguồn lực, quyết liệt phấn đấu, vượt qua khó khăn, tạo bước đột phá phát triển của thành phố toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của thành phố đối với cả nước theo tinh thần Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24 tháng 11 năm 2017 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hồ Chí Minh.

- Trong quá trình chỉ đạo thực hiện, các cấp ủy chú trọng phát hiện, biểu dương nhân rộng các gương làm tốt, cách làm hay, tạo hiệu ứng tích cực trong cán bộ, đảng viên, các ngành, các giới; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức các phong trào, hoạt động chăm lo người nghèo, công nhân, lao động có thu nhập thấp, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, sinh viên, học sinh có hoàn cảnh khó khăn...Việc biểu dương, khen thưởng các gương điển hình ngày càng được chú trọng thực hiện; hàng năm, thành phố đều tổ chức biểu dương các tập thể, cá nhân thực hiện tốt học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Việc bình chọn, biểu dương được tổ chức thẩm định, bình xét từ cấp cơ sở, từ các điển hình tập thể, cá nhân tiêu biểu có thành tích nổi trội ở nhiều lĩnh vực, nhiều giới, trong đó có nhiều tấm gương của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

- Nhìn chung, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến ngày càng tích cực, có mặt sâu sắc hơn trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân; việc đề ra các giải pháp đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 đã gắn kết chặt chẽ hơn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết các vấn đề bức xúc của từng địa phương, đơn vị. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và Nhân dân ngày càng hiểu sâu hơn tấm gương đạo đức hết sức cao cả nhưng cũng hết sức bình dị, gần gũi của Bác Hồ, tự giác học tập và làm theo Bác Hồ để ngày càng hoàn thiện mình. Tinh thần trách nhiệm, ý thức tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên đã trở nên tự giác và thường xuyên hơn, ý thức làm theo ngày càng chuyển biến tích cực, góp phần đấu tranh ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức và tạo sức lan tỏa ra Nhân dân, tạo sức mạnh tổng hợp quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố    lần thứ X và nghị quyết đại hội đảng các cấp; thực hiện có hiệu quả chủ đề năm 2019 của thành phố “Năm đột phá cải cách hành chính và thực hiện Nghị quyết 54         của Quốc hội”.  

50 năm qua, kể từ ngày Bác Hồ ra đi, những lời di huấn của Người trong Di chúc mãi mãi là lời dạy thiêng liêng, là một di sản vô giá của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Thành phố Hồ Chí Minh cùng cả nước thực hiện di huấn của Người,      không ngừng phấn đấu, khắc phục khó khăn, với nhiều sáng tạo, đột phá và đổi mới, đạt được nhiều thành tựu to lớn và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, khẳng định vị trí trọng điểm phía Nam của Tổ quốc, xứng đáng là thành phố mang tên Người.

Với tất cả tình cảm kính yêu vô hạn và niềm tin tuyệt đối vào lời căn dặn của Người, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố đồng lòng quyết tâm thực hiện thắng lợi Di chúc thiêng liêng và con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh   và Đảng ta đã lựa chọn, xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.                                                    

BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY

 

 

 

Đi tìm cội nguồn của một chính thể

Ngày 20-7-1954, Hiệp định Genève về chiến tranh Đông Dương được ký kết. Theo đó, Việt Nam sẽ tạm thời bị chia cắt bằng ranh giới là vĩ tuyến 17 để quân đội các bên tập kết. Quân đội Pháp sẽ rút khỏi Việt Nam và trao quyền quyết định vận mệnh dân tộc mình cho người Việt Nam. Một năm sau đó sẽ tiến hành hiệp thương và một năm sau nữa sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước.

Tuy nhiên, thực tế đã không diễn ra như vậy. Diễn văn trong buổi họp mừng Quốc khánh 2-9-1954, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nêu: “Hiện nay, đình chiến đã ký kết, hòa bình đang trở lại ở Đông Dương, thì chúng (đế quốc Mỹ) ra sức phá hoại việc thi hành đình chiến, phá hoại việc lập lại hòa bình. Từ những việc như: tàu của hải quân Mỹ đến chở dân miền Bắc Việt Nam bị bọn Ngô Đình Diệm ép đi vào miền Nam; trù tính kế hoạch “viện trợ” cho bọn Ngô Đình Diệm; cho đến âm mưu thành lập “khối phòng thủ Đông Nam Á”, mục đích của bọn can thiệp Mỹ là phá hoại sự thực hiện hiệp định đình chiến ở Đông Dương…”[1].

Năm 1954, Ngô Đình Diệm được Mỹ đưa về miền Nam làm Thủ tướng của Quốc trưởng Bảo Đại. Một năm sau đó, Diệm làm cái gọi là “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại và lập nên Việt Nam Cộng hòa. Ngày 26-10-1955 trở thành “ngày Quốc khánh” của chế độ Diệm.

Trong bộ Miền Nam giữ vững Thành Đồng, GS. Trần Văn Giàu khẳng định: “Trên đường thiết lập nền độc tài cá nhân của nó, từ năm 1955 đến năm 1956, Ngô Đình Diệm chẳng những ra sức tiêu diệt các đảng phái và giáo phái đối lập, mà lại còn song song ra sức tạo cho chính quyền độc tài cá nhân đó một cơ sở pháp lý, một bề ngoài dân chủ”[2].

Thực tế cho thấy, đô la, vũ khí, cố vấn Mỹ tung vào miền Nam là yếu tố nền tảng cho việc xây dựng và củng cố chính quyền của Ngô Đình Diệm. Đó chính là nguồn sống của chính quyền Diệm, không có những nguồn sống ấy, thì chính quyền này không thể đứng được. Báo cáo tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa II, ngày 12-4-1961, Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Chế độ Ngô Đình Diệm là con đẻ của đế quốc Mỹ, tội ác của gia đình họ Ngô là tội ác của đế quốc Mỹ. Nhân dân ta ở miền Nam chống Ngô Đình Diệm tức là chống đế quốc Mỹ…”[3].

image002
image003

Rõ ràng, cái được gọi là nền “đệ nhất cộng hòa”, một chính thể tự cho là tự do, dân chủ, độc lập…, thực chất là một thứ tầm gửi. Tính chất tầm gửi đó có thể được nhìn nhận qua hoạt động cưỡng ép di cư. “Mục đích chính trị căn bản của cuộc cưỡng ép di cư này là: Thứ nhất, làm cho dư luận ở xứ này và dư luận ở nước ngoài tưởng rằng đông đảo nhân dân miền Bắc trốn tránh chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đi theo chế độ miền Nam tốt hơn, hấp dẫn hơn. Thứ hai, và điều này mới là chủ yếu, tạo cho chính quyền miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm, một chỗ dựa cần thiết, một nguồn tuyển mộ quân lính, tay sai, bè đảng, để dùng vào việc thực hiện kế hoạch xây dựng nền độc tài của Diệm, tức là chế độ thuộc địa kiểu mới ở miền Nam”[4].

Cuộc cưỡng ép di cư này còn có một số mục đích khác nữa. Đó là về kinh tế - xã hội, đối với miền Bắc, Mỹ - Diệm hi vọng rút được một số lượng trí thức, công nhân kỹ thuật vào Nam, tạo ra những xáo động lớn, phá hoại sản xuất, làm cho miền Bắc không ổn định về kinh tế, khiến cho lòng người li tán, gây khó khăn cho ta trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà và hàn gắn vết thương sau chiến tranh. Đối với miền Nam, vùng bị tạm chiếm, dân di cư sẽ là nguồn cung cấp nhân công cho các đồn điền cao su, cà phê, cây ăn quả và một số cây công nghiệp mới du nhập. Đồng thời, với số người di cư, Mỹ - Diệm nhằm “thăng bằng sự chênh lệch giữa dân số miền Bắc 12 triệu và dân số miền Nam 11 triệu”. Điều này có nghĩa là “tăng thêm hi vọng của thắng lợi tổng tuyển cử”. Đồng bào di cư còn là nguồn nhân lực quan trọng đáng kể để xây dựng ngụy quân, củng cố ngụy quyền.

Những thủ đoạn tàn bạo của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai

Trong những hoạt động nhằm củng cố quyền lực của mình, Ngô Đình Diệm, được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của quan thầy Mỹ, đã có nhiều thủ đoạn tàn bạo. Đó là loại trừ tham mưu trưởng thân Pháp Nguyễn Văn Hinh (và thay bằng Lê Văn Tỵ); tiêu diệt Đại Việt ở Quảng Trị, Phú Yên; tiêu diệt Quốc dân đảng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kontum…

Chủ trương tập trung quyền lực của Diệm đã làm các thế lực quân sự cát cứ hoảng sợ. Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên bắt đầu liên kết để chống lại Diệm, thường được gọi là “Tam liên”. Diệm đồng thời chia rẽ trong hàng ngũ Tam liên và trong từng thế lực quân sự, tổ chức các chiến dịch quân sự và dụ dỗ, mua chuộc. Kết quả là Bình Xuyên bị đánh bại hoàn toàn. Giáo phái Hòa Hảo cũng nhanh chóng bị loại trừ, khi một số thủ lĩnh lớp bị giết (Ba Cụt – Trần Quang Vinh), lớp bị mua chuộc (Hai Ngoán – Lâm Thành Nguyên, Nguyễn Giác Ngộ), lớp bị đánh bại rồi chịu đầu hàng (Năm Lửa – Trần Văn Soái)… Còn với Cao Đài, sau khi hai chỉ huy quân sự là Trịnh Minh Thế và Nguyễn Thành Phương hợp tác với Diệm thì lực lượng còn lại dần yếu thế, cuối cùng Hộ pháp Phạm Công Tắc phải bỏ chạy ra nước ngoài để tránh bị Diệm làm hại. Như vậy, chỉ trong vòng hơn 1 năm, các thế lực quân sự cát cứ gần như bị Diệm tiêu diệt hoàn toàn.

Trong lúc vừa trấn áp các giáo phái và thế lực đối lập, trong thời gian 300 ngày, chế độ Diệm đã thi hành ngay chính sách trả thù những người kháng chiến. Thủ đoạn của Diệm vô cùng phong phú và hậu quả thì vô cùng nặng nề. Các thủ đoạn đó là:

Thứ nhất, phân loại công dân và phân biệt đối xử. Chúng phân thành 3 loại: loại A (công dân bất hợp pháp, là những người yêu nước, yêu hòa bình, ủng hộ Hiệp định Genève, từng tham gia kháng chiến), loại B (công dân bán hợp pháp, gồm họ hàng, bạn bè của loại A và họ hàng, bạn bè những người đi tập kết ra Bắc), loại C (công dân hợp pháp, gồm những người còn lại). Đường lối của Diệm là dựa vào loại A đánh vào loại C, làm cho loại B khiếp sợ và khuất phục.

Thứ hai, đàn áp các cuộc biểu tình chống áp bức và đòi thi hành đúng các điều khoản của Hiệp định Genève. Chẳng hạn, vụ Mỏ Cày (Bến Tre, tháng 9-1954), vụ Cây Cốc (Quảng Nam, tháng 9-1954), vụ Trà Ôn (Vĩnh Long, tháng 10-1954)…

Thứ ba, tổ chức khủng bố những người từng tham gia kháng chiến. Một số vụ tàn sát điển hình, như vụ triệt hạ Hướng Điền (Quảng Trị, tháng 7-1955, giết hại 3 lần với tổng cộng 91 người, trong đó có 15 phụ nữ và trẻ em gái bị hãm hiếp), vụ Đại Lộc (Quảng Nam, cuối năm 1957, bắt và giết hại 5.000 người)… Diệm cũng cho xây dựng hệ thống nhà tù và trại tập trung dày đặc. Nhà tù cỡ lớn giam từ ngàn người trở lên thì lúc này miền Nam có khoảng 100 cái, như Chí Hòa (chứa 4.000 người), Phú Lợi (6.000 người), Biên Hòa (3.000 người), Thủ Đức chứa (2.000 người)…

Về quãng thời gian khó khăn này, Đại tướng Văn Tiến Dũng nhận xét: “Trong 5 năm đấu tranh chính trị gay go và quyết liệt, đồng bào miền Nam đã chịu đựng nhiều đau thương và tổn thất, hàng ngàn xóm làng bị địch đốt phá, hàng chục vạn cán bộ, đảng viên bị giam cầm, tra tấn và bắn giết”[5]. Tài liệu của Đại tướng dẫn lại cho biết, tính đến cuối năm 1957, lực lượng của Đảng ở các tỉnh đồng bằng khu 5 bị tổn thất nặng nề: 70% đảng ủy viên xã, 60% huyện ủy viên, 40% tỉnh ủy viên bị bắt và bị giết. Tỉnh có phong trào khá nhất, chỉ còn 10 chi bộ, mỗi chi bộ 3 đảng viên, tỉnh yếu còn 2, 3 chi bộ, 12 huyện đồng bằng mất hết cơ sở đảng.

Tại Nam bộ, tính chung từ tháng 7-1955 đến tháng 2-1956, chúng đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên. Từ năm 1955 đến 1958, chúng giết hại khoảng 68.000 cán bộ, đảng viên, bắt giam 446.000 người. Chưa hết, tháng 12-1958, chúng đầu độc hàng nghìn tù chính trị tại trại giam Phú Lợi. Tháng 4-1959, Diệm tuyên bố “đặt miền Nam trong tình trạng khẩn cấp”[6].

Bắt đầu một cuộc chiến chính nghĩa

Sau khi hết 300 ngày chuyển quân, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm phớt lờ và tiếp tục phủ nhận Hiệp định Genève. Trong khi đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị mở hội nghị hiệp thương thì Diệm từ chối. Các luận điệu xuyên tạc (như Hiệp định Genève chỉ nói hiệp thương chứ không nói hội nghị hiệp thương, chính quyền Việt Nam Cộng hòa không ký Hiệp định Genève nên không cần phải thực hiện, miền Bắc không có dân chủ nên không thể tổng tuyển cử tự do…) đều bị đánh tan.

Hồi ức Đại tướng Văn Tiến Dũng nêu rõ: “Đảng ta đã chỉ rõ rằng: đứng trước chính sách cực kỳ phản động và tàn bạo của Mỹ - Diệm, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác là đứng lên làm cách mạng để cứu nước, cứu mình. Do đó, mục đích cách mạng miền Nam là phải đánh đổ chính quyền độc tài phát xít Ngô Đình Diệm và đánh đổ bằng con đường cách mạng”[7].

Nghị quyết 15 được Ban Chấp hành Trung ương thông qua tháng 1-1959 đã chỉ rõ: Phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 17-1-1960, phong trào đồng khởi nổ ra ở Bến Tre sau đó lan rộng ra khắp miền Nam.

Cuộc chiến vũ trang chống Mỹ và tay sai bắt đầu từ đó. Rõ ràng, chế độ Ngô Đình Diệm là sự khởi đầu của chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam nên cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước bắt đầu từ cuộc đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm.

Từ năm 1961, Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, bằng cách xây dựng quân đội Sài Gòn mạnh với vũ khí, trang bị và cố vấn Mỹ, tiến hành “bình định” và lập “ấp chiến lược”, nhằm tiêu diệt các lực lượng vũ trang miền Nam. Nhưng âm mưu bình định và dồn dân trong các chiến lược không đạt kết quả, buộc Mỹ phải tăng dần lực lượng, từ 30.000 cố vấn năm 1964 lên 184.314 cố vấn và binh lính vào năm 1965.

Cuối năm 1965, Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, trực tiếp đưa quân chiến đấu từ Mỹ sang, “tìm và diệt” quân chủ lực miền Nam, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Lực lượng Mỹ có mặt ở miền Nam đến cuối năm 1968 lên tới 545.000 tên; các nước như Thái Lan, Philippines, Úc, New Zealand và Hàn Quốc huy động thêm 70.000 quân nữa. Số lính Việt Nam Cộng hòa lúc này là 600.000 quân. Đây là những minh chứng thuyết phục cho hành vi xâm lược của Mỹ tại Việt Nam.

Thực tế Mỹ không chỉ xâm lược miền Nam, chiếm đóng thông qua chính quyền tay sai, mà còn nhiều lần xâm phạm miền Bắc bằng đường không (dùng máy bay oanh tạc), đường biển (thả ngư lôi dọc theo bờ biển miền Bắc), đường bộ (dùng biệt kích xâm nhập trực tiếp). Hoạt động chiến tranh của Mỹ tuy không xây dựng chính quyền do người Mỹ đứng đầu như Pháp nhưng hòng biến miền Nam (nếu có thể thì cả Việt Nam) thành vùng phụ thuộc Mỹ, làm tiền đồn chống lại sự phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở châu Á – Thái Bình Dương, làm thị trường tiêu thụ sản phẩm của Mỹ và cung cấp nguyên vật liệu cho Mỹ…

 

Nếu chỉ là cuộc chiến nội bộ của người Việt Nam (civil war) thì khắp thế giới nói chung và nước Mỹ nói riêng đã không có hành động phản chiến quyết liệt. Trong suốt cuộc chiến, có hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam, hơn 50 nước có phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam, hơn 160 triệu người ở nhiều nước ghi tên tình nguyện sang Việt Nam đánh Mỹ, 83 cơ quan đại diện Mỹ ở các nước bị nhân dân đập phá… Tại Mỹ, có nhiều công dân Mỹ tự thiêu để phản đối cuộc chiến, trong đó có nhân vật nổi tiếng là Norman Morison; hơn 200 tổ chức chống chiến tranh xâm lược trên khắp các bang; 16/27 triệu thanh niên Mỹ tới tuổi quân dịch đã chống lệnh quân dịch; 75.000 người Mỹ bỏ ra nước ngoài vì không chịu nhập ngũ và đấu tranh phản chiến…[8] Cả cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton (1993 – 2001) khi còn là sinh viên cũng từng đấu tranh phản chiến.

Do đó, cuộc chiến tranh tại Việt Nam là cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và chống xâm lược của nhân dân Việt Nam. Với nhân dân ta, đó là cuộc chiến chống xâm lược vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX!

TRÚC GIANG

Trích đăng từ trang thông tin điện tử codotphcm.com.

 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 02/5/2019

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

                                                                                      

 

 

Thời gian vừa qua, Ban biên tập Cờ đỏ Tp. Hồ Chí Minh đã nhận được rất nhiều ý kiến phản ánh của người dân, nhất là giáo dân về hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật của linh mục Giuse Trần Đình Long. Các ý kiến phản ánh tập trung vào việc linh mục này tổ chức giảng đạo gây mất an ninh trật tự, ô nhiễm môi trường, gây ùn tắc giao thông hàng giờ, gây xáo trộn nếp sinh hoạt hàng ngày, nhiều người đến hành lễ; hành vi chữa bệnh mang nhiều bệnh tật, kể cả bệnh nan y, gây nguy cơ cao về truyền nhiễm dịch bệnh, tạo bức xúc cho nhân dân địa phương. Ban biên tập đã tổ chức điều tra các nội dung phản ánh và thực hiện bài “Về các dấu hiệu vi phạm của linh mục Giuse Trần Đình Long”

Trước năm 2010, phần đất tại số 1201/12 Nguyễn Văn Tạo, ấp 1, xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè là khu đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của linh mục Ngô Quang Tuyên. Ngày 15 tháng 04 năm 2010, Linh mục Ngô Quang Tuyên làm đơn gởi UBND huyện Nhà Bè đề nghị giảng đạo ngoài cơ sở của giáo xứ Phú Xuân với lý do nhà thờ Phú Xuân không đủ đáp ứng số lượng giáo dân ngày càng đông, những ngày lễ hàng tuần giáo dân phải để xe hoặc đứng ra lề đường gây mất trật tự an toàn giao thông. Xuất phát từ tình hình trên và được sự thống nhất của Ban Tôn giáo - Dân tộc Thành phố, Ủy ban nhân dân huyện Nhà Bè có văn bản số 576/UBND ngày 22 tháng 6 năm 2010, chấp thuận cho Linh mục Ngô Quang Tuyên được giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo tại địa chỉ số 1201/12 ấp 1, xã Hiệp Phước (sau đây gọi tắt là điểm giảng đạo). Điểm giảng đạo chỉ được tổ chức sinh hoạt từ 17 giờ 00 đến 21 giờ 00, các ngày thứ bảy và chủ nhật trong tuần cho giáo dân xã Hiệp Phước, Long Thới, Nhơn Đức (63 người); nội dung hoạt động: dâng Thánh lễ, đọc Kinh thánh, dạy Kinh thánh, tập hát.

Trong thời gian Linh mục Ngô Quang Tuyên phụ trách giảng đạo tại đây đã chấp hành đúng thời gian và nội dung hoạt động theo văn bản số 576/UBND của Ủy ban nhân dân huyện Nhà Bè.

Tháng 4 năm 2016, Ủy ban nhân dân Thành phố chấp thuận việc Tòa Tổng Giám mục Thành phố bổ nhiệm Linh mục Trần Đình Long (linh mục thuộc dòng Thánh Thể) làm Phó Giáo xứ Phú Xuân tại Văn bản số 1511/ UBND - PCNC. Ngày 27 tháng 6 năm 2016, cố Tổng Giám mục Bùi Văn Đọc ban hành bổ nhiệm thư cho Linh mục Trần Đình Long phụ trách Giáo điểm Tin Mừng.

Từ khi Linh mục Trần Đình Long về phụ trách điểm giảng đạo này có nhiều hoạt động sai trái, làm phức tạp tình hình địa phương về an ninh trật tự, môi trường, gây bức xúc trong nhân dân và chính quyền địa phương tại Huyện và nhiều địa phương ở các tỉnh thành khác.

Cụ thể: Linh mục Trần Đình Long không tuân thủ thời gian và nội dung hoạt động tại văn bản số 576/UBND của Ủy ban nhân dân huyện Nhà Bè. Thời gian hoạt động 6 ngày/tuần, từ thứ 3 đến chủ nhật, trong đó ngày thứ bảy và chủ nhật hoạt động từ 13 giờ đến 20 giờ; các ngày còn lại hoạt động bắt đầu từ 15 giờ, thời gian kết thúc không cố định. Thành phần giáo dân tham dự không phải là người địa phương ở xã Hiệp Phước và các xã lân cận mà quy tụ giáo dân của nhiều tỉnh thành khác. Đặt loa phát thanh bên ngoài khuôn viên điểm giảng đạo, gây ồn ào ảnh hưởng đến sinh hàng ngày của bà con trong ấp. Đặt các thùng khấn nguyện, thu tiền.

image002
image003
image004

Ngoài việc giảng đạo, hoạt động của Linh mục Long có dấu hiệu chữa bệnh mê tín dị đoan như uống nước thánh, xoa đầu ban phép thánh; tuy linh mục Long không thừa nhận hoạt động chữa bệnh, nhưng khi được hỏi về mục đích đến gặp cha Long, nhiều người thừa nhận đến điểm giảng đạo để được Linh mục Long chữa bệnh.

Những tác động tiêu cực từ hoạt động của Linh mục Trần Đình Long tại điểm giảng đạo:

Qua điều tra chúng tôi được biết: hiện nay, tại giáo điểm chỉ có các giáo dân từ nơi khác đến hành lễ và chữa bệnh. Giáo dân của địa phương đã về giáo xứ Phú Xuân sinh hoạt (do cách hành lễ của Linh mục Long không phù hợp). Với việc tụ tập quá đông người hàng ngày có trên 2.000 người dự, các ngày lễ trọng có trên 5.000 người dự, đã gây mất an ninh trật tự, ô nhiễm môi trường, gây ùn tắc giao thông hàng giờ, gây xáo trộn nếp sinh hoạt hàng ngày, nhiều người đến hành lễ, chữa bệnh mang nhiều bệnh tật, kể cả bệnh nan y, gây nguy cơ cao về truyền nhiễm dịch bệnh, tạo bức xúc cho nhân dân địa phương.

Đã có nhiều đơn, thư của người dân địa phương, trong đó có giáo dân tại xã Hiệp Phước gửi đến các cơ quan chức năng phản đối hoạt động của Linh mục Long; nhiều cuộc tiếp xúc của đại biểu hội đồng nhân dân các cấp với cử tri tại địa phương, cử tri có phản ánh những bức xúc đối với hoạt động của Linh mục Long.

Việc xây dựng các công trình không phép, che bạt, quy tụ đông giáo dân dưới hành lang an toàn lưới điện vi phạm nghiêm trọng về trật tự xây dựng, an toàn lưới điện.

Trước tình hình hoạt hoạt động của Linh mục Long tại điểm giảng đạo, các cơ quan chức năng của huyện Nhà Bè tăng cường công tác quản lý, chấn chỉnh các hoạt động sai tại đây. Các cơ quan chức năng nhiều lần làm việc với Linh mục Ngô Quang Tuyên, Linh mục Trần Đình Long yêu cầu khắc phục các sai phạm: Tập trung chỉ đạo xử lý các công trình xây dựng không phép; giám định nguồn nước, xử lý bến bãi đỗ xe, hộ ngăn phòng kinh doanh cho thuê, làm rõ các vụ chết người tại giáo điểm để có căn cứ để xuất xử lý theo quy định của pháp luật. Qua giải quyết của các cơ quan chức năng một số nội dung sai phạm đã được khắc phục như: Một số công trình xây dựng không phép đã được tháo tháo dỡ, tháo biển hiệu đặt không đúng quy định, chấm dứt tổ chức nuôi giữ trẻ không đúng quy định, chấm dứt hoạt động bãi giữ xe trên đất công.

Tuy nhiên, vẫn còn những nội dung vi phạm tại điểm giảng đạo chưa được khắc phục. Qua làm việc với các cơ quan chức năng yêu cầu thực hiện đúng theo nội dung chấp thuận tại công văn số số 576/ UBND ngày 22 tháng 6 năm 2010 của Ủy ban nhân dân Huyện Nhà Bè nhưng Linh mục Long luôn né tránh trách nhiệm, không hợp tác nên một số sai phạm vẫn chưa được khắc phục, một số sai phạm có biểu hiện phức tạp hơn.

Mặt khác, linh mục Trần Đình Long tăng cường tuyên truyền, khuyếch trương hoạt động, tạo dựng danh tính và đánh bóng tên tuổi bằng nhiều cách, mời các thành phần trong xã hội (nghệ sỹ, người nghiện ma túy, người giả sư...) để làm chứng nhờ cầu nguyện “lòng thương xót Chúa” nên hết bệnh hoặc bệnh thuyên giảm và phát tán trên mạng xã hội. Đây là hoạt động có ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của xã hội trên phạm vi rộng. Nghiêm trọng hơn, việc giảng đạo tại đây cũng đang vi phạm điểm a khoản 4 Điều 5 của Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016, trong đó quy định các hành vi bị nghiêm cấm “Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường”.

Trước những hành vi vi phạm pháp luật trên của linh mục Giuse Trần Đình Long, chúng tôi kiến nghị các cơ quan chức năng rút lại Công văn số 576/ UBND ngày 22 tháng 6 năm 2010 với lí do giáo dân của địa phương đã về giáo xứ Phú Xuân sinh hoạt, việc linh mục Long tổ chức giảng đạo ở đây đã trái với tinh thần của Công văn 576/UBND của huyện Nhà Bè; mặt khác tuyên truyền cho người dân hiểu về các hành vi vi phạm pháp luật của linh mục này để họ có những ứng xử phù hợp với các quy định của pháp luật.

Trích đăng từ trang thông tin điện tử codotphcm.com.

 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 02/5/2019

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

                                                                                      

 

 

 

 

Mỗi điều Hồ Chí Minh trăn trở, dặn lại trong Di chúc đều chứa chan tấm lòng một hiền nhân đối với con người, với thiên nhiên, với quê hương đất nước, phản ánh tư tưởng, tình cảm, đạo đức và tâm hồn một người con ưu tú của dân tộc Việt; hiện thân tinh thần, tài năng và tâm hồn của người dân Việt; hiện thân của tinh thần yêu tự do tha thiết, bình dị mà vĩ đại, dân tộc mà thời đại. Đó là di sản bất hủ, đậm đà cốt cách dân tộc Việt và thời đại, “là sự thức tỉnh của nhân tâm, của trí tuệ, của dũng khí” Hồ Chí Minh gửi lại cho các thế hệ mai sau. Cuộc đời Người, với những gì Người đã đi, đã đến và chiến thắng; với tất cả những gì Người đã làm, đã mẫu mực nêu gương và để lại, có lý và đượm tình thương yêu sẽ sống mãi qua các thời đại.

Trong lịch sử hiện đại và trong số các vị lãnh tụ cách mạng trên thế giới, Hồ Chí Minh là một người đặc biệt. Tận tâm, tận lực phấn đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam và nhân loại cần lao, khi mất đi, Hồ Chí Minh không phải là một kỷ niệm của quá khứ, Người sống mãi. Người cùng những cống hiến và phẩm cách cao quý của mình gắn liền với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa của loài người mà đỉnh cao là học thuyết Mác-Lênin - ánh sáng tư tưởng của thời đại trở nên diệu kỳ trong ký ức tất cả mọi thời đại. Những người yêu chuộng tự do, hoà bình trên thế giới đều gọi Hồ Chí Minh trân trọng, thân thiết và giản dị là Bác Hồ! 

Lời dặn tâm huyết mang đậm cốt cách một vĩ nhân

Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất, một trong những vĩ nhân của thế kỷ XX đã yên nghỉ gần 50 năm, song di sản tư tưởng, tinh thần lớn lao hàm chứa trong từng trước tác của Người vẫn đang cùng dân tộc Việt Nam đồng hành trong những thiên niên kỷ mới. Một trong số những di sản đó chính là lời dặn lại đầy tâm huyết, tiếng nói khiêm nhường của một người cộng sản, thấm đẫm chất nhân văn, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và thời đại có giá trị vượt không gian và thời gian - Bản Di chúc lịch sử. Dù đã đi xa, nhưng cùng với thời gian, di sản tư tưởng của Người và bản Di chúc đậm đức hiếu sinh vẫn đồng hành cùng “hiện nay và mai sau, không chỉ là của riêng nhân dân Việt Nam, mà còn dành cho tất cả các dân tộc, các Đảng đấu tranh về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, dù ở châu Á, châu Âu hoặc bất cứ nơi nào trên các lục địa”.

Tài liệu tuyệt đối bí mật” được Hồ Chí Minh khởi thảo tại Hà Nội, vào dịp sinh nhật lần thứ 75 của Người (5/1965). Trong những năm tiếp sau đó, cũng vào dịp kỷ niệm ngày sinh, Người lại đọc, suy ngẫm, trăn trở để chỉnh sửa, bổ sung vào những “lời dặn lại” đặc biệt của mình, cho đến khi trái tim ngừng đập vĩnh viễn vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969.

Là người không chỉ suốt đời tận tuỵ, hy sinh cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, Hồ Chí Minh còn mang theo khát vọng về một đất nước Việt Nam độc lập, hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh cùng một thế giới hạnh phúc cho con người vào cõi vĩnh hằng. Chuẩn bị cho chuyến đi xa vĩnh viễn của mình, một Hồ Chí Minh khi còn anh minh, tỉnh táo đã dành mỗi ngày khoảng từ 1 đến 2 giờ của những ngày tháng 5 đẹp trời (từ năm 1965 đến năm 1969) để viết “Tài liệu liệu tuyệt đối bí mật” gửi lại cho mai sau. Cũng trong những năm cuối của đời mình, một Hồ Chí Minh giữa bộn bề công việc, đang bận lòng với nỗi đau của chiến tranh đã xót xa một nỗi đau chôn vùi trong lòng đất mẹ; đã về thăm tiền nhân, tưởng nhớ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, giữa những ngày miền Bắc đang chống chọi cùng mưa bom, bão đạn của đế quốc Mỹ xâm lược(1965). Thăm đền thờ, dừng lại hồi lâu đọc những dòng chữ trên văn bia, leo lên Thạch Bàn,…vị lãnh tụ - người đầy tớ trung thành của nhân dân dường như đã lường trước được quy luật khắc nghiệt của tạo hoá. Tự ý thức một cách tích cực về bản thân mình, với phong cách ung dung, tự tại vốn bắt nguồn từ chỗ nắm được quy luật vận động của cuộc đời, biết rõ điều gì ắt sẽ qua đi, điều gì ắt sẽ đến và điều gì là trường tồn phải còn mãi, Hồ Chí Minh đã theo gương của tiền nhân, “theo đức hiếu sinh để toàn vẹn cho sự sống còn của nhân dân” viết những lời dặn cuối để lại cho hậu thế.

Mỗi khi lật giở lại những trang bản thảo, những bút tích chỉnh sửa, bổ sung của Người trong bản Di chúc thiêng liêng như một Cương lĩnh hành động ngày nào, dường như vẫn thấy một Hồ Chí Minh đang cẩn trọng, cân nhắc từng ý, từng việc, để cô đọng nhất những trăn trở, những điều cần phải dặn lại. Đó là những vấn đề quan trọng, cần thiết phải làm, nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo cách mạng của một Đảng cầm quyền; đồng thời đưa đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh chung, vì độc lập dân tộc và những tiến bộ xã hội. Đó cũng chính là những dòng chữ cuối cùng của người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn, người chiến sĩ quốc tế nặng lòng vì Đảng, vì dân, vì tình đoàn kết giữa các Đảng anh em và các dân tộc đang đấu tranh cho hòa bình, công lý.

Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho một lá cờ, cho “một sự giải phóng ở bề mặt bên ngoài” mà hiến dâng cuộc đời mình cho cuộc chiến đấu vì phẩm giá và quyền của con người, cho sự giải phóng hoàn toàn. Trong tư tưởng và tình cảm của Người, nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý, nhân dân tiến bộ thế giới là anh em của nhau: “Tất cả những người có lương tri trên thế giới đều nhìn thấy ở Nguyễn Ái Quốc - “Người yêu nước”, ở Hồ Chí Minh - “Người chiếu sáng”, ở Bác Hồ - “Vị Chủ tịch kính mến”. Vì vậy, Người và Di chúc của Người tuy kết tinh tư tưởng, văn hoá, tâm hồn, đạo đức Việt, song “vẫn thuộc vào gia tài của nhân loại, cái gia tài của mọi dân tộc yêu tự do, giải phóng đã phải tiến hành đấu tranh chống lại ách thực dân hay đế quốc”, nhằm thực hiện khát vọng làm người cao cả nhất.

Cương lĩnh tái thiết đất nước sau chiến tranh 

Thâu thái những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại, Hồ Chí Minh luôn cởi mở tiếp thu để làm giàu vốn tri thức của bản thân mình. Người không chỉ trở thành “một nhà tiên tri châu Á báo trước công cuộc giải phóng của các dân tộc bị áp bức”, khổ đau mà Người còn nhìn thấy và dặn lại trước những công việc cần thiết phải thực hiện để xây dựng lại một nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn trong tương lai.

Trong Di chúc, khát vọng và niềm tin tất thắng của lãnh tụ Hồ Chí Minh về cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp hoà bình thế giới dồn nén, chứa chất chỉ trong mấy lời; và niềm tin đó không phải chỉ được nhắc một lần. Người khẳng định: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn” và dù phải hy sinh nhiều của, nhiều người nhưng “Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất”, “đồng bào Nam Bắc nhất định sum họp một nhà”. Theo Người, thắng lợi đó của dân tộc ta là vinh dự, vì “đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to - là Pháp và Mỹ và góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”.

Tiếp đó, với phép xử thế của một nhà văn hoá lớn, là biểu tượng kết tinh truyền thống lịch sử và văn hoá của dân tộc Việt có hàng ngàn năm văn hiến, Hồ Chí Minh “có ý định đến ngày đó” sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc chúc mừng đồng bào, chiến sĩ cả nước và thay mặt nhân dân Việt Nam “đi thăm và cảm ơn” bè bạn quốc tế đã “tận tình ủng hộ và giúp đỡ” cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Tuy nhiên, là Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, bằng dự cảm của riêng mình, Hồ Chí Minh thấu hiểu rằng, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với sự trưởng thành ngày càng vững mạnh của Đảng - đội tiền phong của giai cấp và của dân tộc Việt Nam, nên đã dành những điều “trước hết nói về Đảng” và yêu cầu “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”.

Ghi nhận nguồn sức mạnh nội lực làm nên sức mạnh của Đảng chính là sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Người và tất cả mỗi người cán bộ, đảng viên của Đảng đều nhận thức được rằng: đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết và đoàn kết làm nên sức mạnh và thành công, nên đã luôn cố gắng giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Tuy nhiên, cũng đã có những thời điểm, những cán bộ, đảng viên ở cả Trung ương và địa phương đã vì nhiều lý do khác nhau mà quên đi lý tưởng và lời thề cộng sản, xa rời đạo đức cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến phá hoại khối đoàn kết “muôn người như một” của Đảng. Vì vậy, để thống nhất trong tư tưởng và hành động, Người nhấn mạnh: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”; đồng thời, yêu cầu “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”. Theo Người, đó không chỉ là nhiệm vụ trọng yếu, là yêu cầu bức thiết của Đảng cầm quyền trước mỗi bước chuyển của cách mạng mà còn là cách tốt nhất để “củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”, để Đảng trong sạch, khoẻ mạnh, để “dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.

Những lời dặn thiết tha, đậm chất nhân văn trong Di chúc chứa đựng những giá trị tư tưởng, tinh thần cao quý của cuộc đời Hồ Chí Minh, từ cuộc đời Hồ Chí Minh. Theo Người, dù đã có những đóng góp nhất định, song để thật sự trong sạch, “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên và thanh niên phải hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, phải thấm nhuần và nâng cao “đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”; và vượt lên hết thảy là phải sống với nhau có tình, có nghĩa, có “tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Cũng theo Hồ Chí Minh, để rời xa những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, để làm mực thước cho dân, mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng mácxit, nhất là phải thường xuyên, nghiêm chỉnh tiến hành tự phê bình và phê bình...

Song cũng theo Người, tự phê bình và phê bình phải trên cơ sở “tình đồng chí” thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, làm cho điều thiện sinh sôi, điều ác thui chột, để mỗi người tiến bộ và vững vàng trước mọi cám dỗ, thử thách. Đó không phải không phải đập cho tơi bời, hả giận mà là có lý, có tình, chân thành, thẳng thắn, là văn hoá Đảng, là bản chất tâm hồn và đạo đức dân tộc Việt mà Hồ Chí Minh mong mỏi và gửi lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Sau những điều tâm huyết về Đảng, người cộng sản đầy kinh nghiệm Hồ Chí Minh đã nhắc đến việc chăm lo lực lượng kế cận của cách mạng. Người dành những dòng thiết tha cho thế hệ trẻ, khen ngợi đoàn viên, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, v.v..đã đóng góp công sức của mình trong sự nghiệp cách mạng và yêu cầu, “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Theo Người, “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết [6], bởi không chăm lo cho thế hệ trẻ, không tạo dựng một lực lượng kế tục có đức và có tài, sẽ không có những con người xã hội chủ nghĩa để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản như Lênin từng khẳng định.

Tư tưởng và mục đích cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh xuất phát từ con người và cuối cùng trở về với con người. Bởi lẽ vậy, như một lẽ tự nhiên, trong những lời để lại, Người đặc biệt quan tâm đến con người và những “công việc với con người”. Người cũng chỉ rõ, khi đất nước đã trải qua những năm dài chiến tranh, việc hàn gắn những vết thương của thời hậu chiến là công việc đầy nặng nề, phức tạp nhưng cũng rất vẻ vang, nên Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân lao động ở miền núi cũng như miền xuôi. Những đề nghị của Người về miễn thuế nông nghiệp 1 năm, để “đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”; về xây dựng lại thành phố, làng mạc; về xây dựng những vườn hoa, bia tưởng niệm các liệt sĩ, “để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta”,... thực sự thiết thực, cụ thể, đầy tính nhân văn.

Một Hồ Chí Minh đầy bao dung và nhân ái, tràn đầy lòng thương yêu đối với nhân dân và nhân loại cần lao đã dành tình thương yêu của mình cho hết thảy mọi người. Đó là những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình; những liệt sĩ, cha mẹ vợ con của thương binh, liệt sĩ; những chiến sĩ trẻ, những phụ nữ, những thanh niên xung phong,v.v.. Với họ, Người mong mỏi Đảng và các cấp chính quyền chăm lo, tạo điều kiện giúp họ được sống yên ổn, có công việc làm ăn thích hợp, để góp sức mình cho công cuộc xây dựng lại đất nước. Còn đối với những con người từng lầm lỗi, lạc đường hoặc là nạn nhân của chế độ cũ (như trộm cấp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, v.v..), Hồ Chí Minh tâm niệm, dù là ai, họ cũng mang dòng máu Việt, cũng có cùng nguồn cội, nên lấy lòng nhân, khoan dung độ lượng, hướng về lẽ phải chân chính mong mỏi “cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”...

Những điều Hồ Chí Minh dặn lại thể hiện rõ chính sách an sinh xã hội nhân văn “không bỏ ai ở lại phía sau” đối với thương binh, liệt sĩ, cha mẹ, vợ con của họ; đối với phụ nữ, thanh niên, nông dân, đồng bào miền xuôi cũng như miền núi; đối với những nạn nhân của chế độ cũ... Tất cả không ngoài mục đích mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong chiến tranh xâm lược, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nhấn mạnh rằng, đây là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp, khó khăn và cũng "là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi" nên Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”...

Như một Cương lĩnh hành động của một Đảng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với tình hình và nhiệm vụ cách mạng được giao phó, những chỉ dẫn của Người trong “Tài liệu tuyệt đối bí mật” - không mang tính áp đặt, những vẫn được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đồng tâm, đồng lòng thực hiện. Bởi rằng, đối với một Đảng cầm quyền, việc quan tâm đến những lợi ích thiết thực hàng ngày của mỗi người dân, cổ vũ họ, chia sẻ với họ, cũng chính là chăm lo đến quyền con người, phát huy quyền làm người của mỗi người. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh thấu hiểu rằng, động lực để thực hiện khát vọng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chính là nhân dân lao động. Lòng yêu nước, thương dân, thương nhân loại khổ đau của Người trong Di chúc dành lại cho muôn đời con cháu mai sau thể hiện sự quan tâm của Người đến lợi ích của từng con người và lợi ích của cả cộng đồng. Đó cũng chính là sự biểu đạt đặc sắc của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, của nhà văn hoá lớn Hồ Chí Minh, suốt đời không mang danh lợi, chỉ khôn nguôi một hoài bão: Độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho đồng bào.

Lời dặn khiêm nhường của người chiến sĩ cộng sản 

Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ của nhân dân Việt Nam, Người còn “là một nhà cách mạng trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản và đã đóng góp to lớn vào sự đoàn kết các nước xã hội chủ nghĩa, vào việc củng cố và phát triển phong trào cộng sản”. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh không chỉ là một người cộng sản Việt Nam mẫu mực, Người còn là người chiến sĩ cộng sản quốc tế trong sáng, thuỷ chung, luôn quan tâm đến sự phát triển chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Khơ rútxốp trong hồi ký của mình từng viết: Hồ Chí Minh là “vị thiên sứ cách mạng”, là “vị thánh cộng sản”, bởi những hoạt động không mệt mỏi của Người cho phong trào cộng sản quốc tế.

Không phải ngẫu nhiên, trong Di chúc, khi viết về phong trào cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh viết: “Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em”[8]. Người chiến sĩ cộng sản quốc tế Hồ Chí Minh đã có những đóng góp tích cực cho phong trào cách mạng thế giới. Người đã từng nhiều lần cảnh báo sự không quan tâm đúng mức về mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa với phong trào cách mạng vô sản ở chính quốc tại các diễn đàn quốc tế; Người cũng từng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình, hết lòng hàn gắn những mâu thuẫn trong phe xã hội chủ nghĩa, bởi Người nhận thức sâu sắc rằng: Mối bất hoà, mâu thuẫn Xô - Trung và sự rạn nứt trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là một tổn thất to lớn của sự nghiệp cách mạng thế giới. Theo Người, những bất đồng, chia rẽ đó không chỉ làm giảm đi nguồn sức mạnh của sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người mà còn chia rẽ khối đoàn kết, nhất trí của các lực lượng dân chủ, yêu chuộng hoà bình, tiến bộ trên thế giới; đồng thời, tạo điều kiện để đế quốc Mỹ lợi dụng tình hình, mở rộng cuộc chiến tranh ở Đông Dương và sự không thống nhất trong hành động ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Do đó, trước khi đi xa, Hồ Chí Minh đã rất đau lòng trước những tồn tại đang diễn ra trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Và cũng biết rằng mình không thể tiếp tục làm vị “thiên sứ cách mạng”, Hồ Chí Minh đã gửi những ưu phiền vào Di chúc và mong ước: đó là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, để “góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết” quý báu giữa các đảng anh em. Với tinh thần quốc tế vô sản cao cả đó, “Bác Hồ cùng với bản Di chúc của Người là thuộc về tất cả phong trào cộng sản, công nhân và cách mạng trên thế giới. Người được liệt vào những bậc mà thân thế và sự nghiệp đã vượt ra ngoài phạm vi biên giới của Tổ quốc mình”.

Khiêm nhường trong vị thế một nguyên thủ quốc gia, một Hồ Chí Minh cũng rất giản dị trên cương vị một lãnh tụ của nhân dân Việt Nam. Bao giờ và ở đâu, cũng vẫn ngời sáng một Hồ Chí Minh - tấm gương mẫu mực của đạo đức cách mạng, của tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phút cuối của đời mình, sau khi dành tâm tư, tình cảm cho Đảng, cho dân, cho phong trào cách mạng thế giới, ung dung và thư thái, Người để lại mấy dòng cuối cùng trong Di chúc để viết về việc riêng của mình.

Trước Hồ Chí Minh, lịch sử thế giới đã có nhiều bản Di chúc. Nhà khoa học Noben của Thụy Điển trước khi từ giã cõi đời di chúc lại: Toàn bộ tài sản của ông sẽ được gửi vào nhà băng quốc tế. Số tiền lãi dành tặng thưởng cho những cá nhân có đóng góp cho hoà bình và sự tiến bộ của nhân loại. Nhà thơ Ba Lan Ađam Mắcxkiêvích mong muốn, quả tim dù đã ngừng đập của ông sẽ được đưa về Thủ đô Vácxava, với mong ước giản dị: để nó được sống mãi cùng nhịp đập của hàng triệu triệu trái tim người dân Ba Lan. Vua Lý Nhân Tông - một anh quân thời Lý, vốn sống kiệm ước, khi sắp mất cũng có lời di chúc thật khiêm nhường: Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên vui, làm sao khi chết đi lại để cho nhân dân mình mặc sơ gai, sớm tối khóc than,…vì vậy, việc an táng cần phải tiết kiệm, không xây lăng mộ riêng, nên chôn ngay cạnh Tiên đế.

Một Hồ Chí Minh suốt đời yêu thương nhân dân, vốn giản dị, rất “sáng mà không chói”, khi ra đi, tiếc nuối lớn nhất của Người là “suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Vì vậy, Người mong “chớ nên tổ chức linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân” và yêu cầu được hoả táng. Sau đó ba phần tro cốt của Người để vào 3 hộp sành, như tình yêu thương tha thiết của Người dành cho đồng bào ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam...

Sau Hồ Chí Minh, một trong những người bạn thân thiết của Người, nguyên Thủ tướng Chu Ân Lai trước khi vĩnh biệt thế giới đã dặn lại rằng: Khi mất đi, ông muốn được hoả táng. Tư tưởng và tình cảm ông dành cho đất nước, nên mong muốn tro cốt của mình sẽ được nhồi vào đại bác, bắn đi bốn phương tám hướng, để ông được sống cùng non nước Trung Hoa rộng lớn. Và Đức Giáo hoàng John Paul II, trong di chúc của mình cũng dặn lại: Ta không có sản vật gì lưu lại…và xin được “chôn táng dưới đất, chứ không phải trong thạch mộ nổi”...

Vậy là, dù sinh ra ở những hoàn cảnh, thời điểm khác nhau, làm những công việc khác nhau, nhưng giữa họ đều có một điểm chung nhất, đó chính là tư tưởng, tình cảm và tấm lòng của những người con luôn hướng về quê hương đất nước, về con người, hướng về những điều tốt đẹp, thức tỉnh mọi tâm hồn. Với ý nghĩa đó, những điều Hồ Chí Minh dặn lại trong Di chúc chứa đựng giá trị tư tưởng và tinh thần, kết tinh từ cuộc đời hoạt động cách mạng không mệt mỏi của một con người “đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống”. Tư tưởng và tình cảm đó không chỉ mang lại sự đổi đời cho một dân tộc Việt Nam mà còn đem lại niềm tin tưởng mãnh liệt và khát vọng vào một ngày mai tươi đẹp cho tất cả các dân tộc yêu chuộng tự do, công lý trên toàn thế giới và vì thế,“Di chúc của Người đặc biệt có ý nghĩa đối với các lực lượng cách mạng và toàn thế giới tiến bộ”.

Hồ Chí Minh không còn với chúng ta theo nghĩa vật chất, song Người rất gắn bó với chúng ta về mặt đạo lý, tinh thần. Dùng những ngôn từ giản dị nhất để biểu đạt cái lớn lao của tư tưởng, Di chúc của Hồ Chí Minh “là một áng văn tuyệt bút” không dài, là những lời cuối súc tích, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và thời đại, hội tụ trong đó hoài bão và tình cảm của một nhà văn hoá lớn. Phản ánh tâm hồn một nhà cách mạng nhân đạo; trí tuệ, tư tưởng của một nhà hoạt động cách mạng phi thường; lòng vô tư tuyệt đối, tình yêu của Người đối với cuộc đời, với nhân dân, với thiên nhiên trong Di chúc không có gì so sánh nổi. Và dường như lời cuối của một con người biết nói lên những lời cần nói ở vào những thời khắc lịch sử quan trọng - những lời nói giản dị, đúng mức, không văn hoa nhưng khắc sâu vào trái tim, khối óc của từng người, diễn đạt điều mà mọi người cảm thấy sâu xa nhất trong lòng mình nhưng chưa diễn đạt được đều hội tụ trong bản Di chúc lịch sử của Hồ Chí Minh.

Mỗi điều Hồ Chí Minh trăn trở, dặn lại trong Di chúc đều chứa chan tấm lòng một hiền nhân đối với con người, với thiên nhiên, với quê hương đất nước, phản ánh tư tưởng, tình cảm, đạo đức và tâm hồn một người con ưu tú của dân tộc Việt; hiện thân tinh thần, tài năng và tâm hồn của người dân Việt; hiện thân của tinh thần yêu tự do tha thiết, bình dị mà vĩ đại, dân tộc mà thời đại. Đó là di sản bất hủ, đậm đà cốt cách dân tộc Việt, “là sự thức tỉnh của nhân tâm, của trí tuệ, của dũng khí” Hồ Chí Minh gửi lại cho các thế hệ mai sau. Cuộc đời Người, với những gì Người đã đi, đã đến và chiến thắng; với tất cả những gì Người đã làm, đã mẫu mực nêu gương và để lại, có lý và đượm tình thương yêu sẽ sống mãi qua các thời đại.

Dù Người đã đi xa, song trên các trang của lịch sử, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh vẫn sẽ vinh quang chói lọi như sao Bắc đẩu. Mưu cầu hạnh phúc cho hết thảy mọi con người, hướng dẫn loài người đi đến một tương lai tốt đẹp hơn, Hồ Chí Minh và tình thương yêu vô bờ bến của Người trong bản Di chúc gửi lại “tiếp tục là nguồn cảm hứng” cho hậu thế, để mỗi dân tộc, mỗi cuộc đời, mỗi con người sẽ “không yếu đuối trong đấu tranh giành lấy tương lai, để không dừng lại ở điều đạt được mà luôn luôn tiến lên phía trước”.

Tư tưởng của Người trong Di chúc đã và đang soi sáng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp đổi mới, hội nhập của nhân dân Việt Nam. Đó không chỉ là những chỉ dẫn ở tầm chiến lược cho sự xác định phương hướng, đường lối, nhiệm vụ, chính sách, hệ thống pháp luật của một Đảng cầm quyền; để xây dựng và chỉnh đốn Đảng; để đổi mới và phát triển; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,v.v.. để xây dựng và bảo vệ đất nước mà còn là những phác thảo trong chương trình hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân để kiến tạo đất nước phát triển bền vững và hiện đại.

Thực hiện Di chúc của Người, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hai miền Nam - Bắc sum họp một nhà; cả nước đã cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Một đất nước Việt Nam hồi sinh sau những năm dài chiến tranh đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; đã làm hết sức mình vì sự đoàn kết, lớn mạnh của phong trào cộng sản quốc tế; đã chủ động hội nhập quốc tế và ngày càng khẳng định uy tín, vị thế trong khu vực và trên trường quốc tế.

TS. Văn Thị Thanh Mai, Ban Tuyên giáo Trung ương

ĐOÀN KẾT LÀM NÊN SỨC MẠNH CỦA ĐẢNG!

Xây dựng và củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, giữ gìn truyền thống cực kỳ quý báu đó “như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, phát huy vai trò là trung tâm đoàn kết của toàn dân tộc theo lời Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc là một trong những thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện.  

“Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn”

Từ nhận thức sâu sắc rằng, “đoàn kết làm ra sức mạnh”, “đoàn kết là thắng lợi”, Hồ Chí Minh đã không chỉ vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin để thành lập một Đảng Mácxít ở Việt Nam mà còn luôn chăm lo xây dựng, củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, để Đảng ta thực sự là đội tiền phong, bộ tham mưu vững mạnh, người lãnh đạo - người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Ngay từ thập niên 1930, trước nguy cơ phân liệt về tư tưởng và tổ chức của những người cộng sản Việt Nam đang đe dọa bước tiến của phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh hiểu rõ rằng, vấn đề sống còn đối với đất nước, đối với dân tộc lúc này là “phải hành động, hành động mau lẹ và kiên quyết, không được phép chậm trễ hơn nữa, thiếu một Đảng cách mạng thống nhất lãnh đạo phong trào công nhân, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta sẽ như con tàu không có người cầm lái”. Trên tinh thần “bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”, Người đã sáng suốt, kịp thời, hành động kiên quyết triệu tập và tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930.

Suốt tiến trình xây dựng và phát triển, để đảm bảo vai trò lãnh đạo và xứng đáng là đội tiền phong, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi đoàn kết, thống nhất trong Đảng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng Đảng, là sự vận động và phát triển theo đúng quy luật của Đảng cách mạng; là sinh mệnh của Đảng, là vấn đề sống còn của sự nghiệp cách mạng, là cơ sở để xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Đảng Cộng sản là một bộ phận trong hệ thống chính trị nhưng là lực lượng lãnh đạo, là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân, cho nên “sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”(2). Trên tinh thần tuyệt đối không thỏa hiệp với những xu hướng bè phái, coi sự chia rẽ là tội ác lớn nhất đối với Đảng, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Đoàn kết là là một truyền thống quý báu và “đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”(3). Cơ sở để xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng - “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”, để không có hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” chính là đường lối, quan điểm và Điều lệ của Đảng; là thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc về xây dựng Đảng; là phát huy vai trò gương mẫu trong mọi lĩnh vực công tác cũng như cuộc sống đời thường của đội ngũ cán bộ, đảng viên…

Để xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, yêu cầu trước hết là phải tôn trọng và giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực tế, Đảng có sức mạnh khi mọi tổ chức Đảng và đảng viên tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Mọi sự rạn nứt, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng đều bắt nguồn từ sự buông lỏng nguyên tắc tập trung dân chủ và không chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, không thường xuyên tự phê bình và phê bình. Vì vậy, muốn đoàn kết và thống nhất thật sự trong tư tưởng và hành động, nhất định phải phát huy dân chủ và mở rộng dân chủ. Tuy nhiên, dân chủ không thể tách rời tập trung nghiêm túc mà phải gắn chế độ lãnh đạo tập thể với cá nhân phụ trách; đồng thời, chống tập trung quan liêu, dân chủ quá trớn, chống những tư tưởng và hành động cơ hội chủ nghĩa vô nguyên tắc. Bên cạnh đó, phải chống tình trạng dân chủ hình thức, thống nhất một chiều, thiếu sự tranh luận, thảo luận thấu đáo hoặc hiểu không đúng nguyên tắc này, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ và chống dân chủ giả hiệu “miệng nói dân chủ nhưng thực chất là quan chủ”...

 

Nói về đoàn kết, trong Lời kêu gọi ở Lễ mừng Quốc khánh 2/9/1955, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch. Lực lượng đoàn kết đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Lực lượng đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi. Lực lượng đoàn kết sẽ động viên nhân dân từ Bắc đến Nam đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước”. Sau đó, Người nhiều lần khẳng định: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”; “Đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết là then chốt của thành công”... Vì thế, đoàn kết là cội nguồn tạo nên sức mạnh lãnh đạo của Đảng, là nhân tố để phát huy trí tuệ và khả năng sáng tạo của những chiến sĩ tiên phong nhằm đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng.

Coi trọng đoàn kết, thống nhất trong Đảng - hạt nhân cốt lõi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - cội nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, trước khi đi xa về cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh đã trăn trở, chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần bản Di chúc viết tay của mình cho phù hợp với sự phát triển của đất nước và sự chuyển biến của tình hình thế giới; trong đó, Người nêu rõ tầm quan trọng, trách nhiệm, phương thức để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Cụ thể, Người căn dặn trong Di chúc: “Trước hết nói về Đảng - nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân tộc ta”. Đoàn kết trong Đảng ở đây theo Người: 1) Xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng và hành động, đoàn kết đã trở thành một “truyền thống quý báu của Đảng và của dân ta”. 2) Đó là cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế - là một cội nguồn làm nên sức mạnh của Đảng. Vì thế, “các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. 3) Đoàn kết phải được bảo vệ, gìn giữ và không ngừng củng cố, phát triển trong Đảng. 

Trong gần 90 năm qua, thấm nhuần những chỉ dẫn của Người về đoàn kết thống nhất: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công”(5) và “không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(6), Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành trọng trách mà Tổ quốc và nhân dân giao phó. Trong mỗi bước chuyển của cách mạng, căn cứ vào tình hình trong nước và quốc tế, với chủ trương, đường lối đúng đắn và lãnh đạo thống nhất, với sức mạnh của khối đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và trong hành động từ Trung ương xuống cơ sở, Đảng đã lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước. Từ thực tiễn lịch sử xây dựng và trưởng thành của Đảng, có thể thấy, đoàn kết trong Đảng - cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân không phải chỉ là nhiệm vụ chiến lược của Đảng mà còn là đòi hỏi khách quan của toàn thể dân tộc trong cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cho nên, nhất quán và xuyên suốt, mục đích của Đảng “có thể gồm trong 8 chữ là: “ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”.

Thấm nhuần lời dặn của Người về đoàn kết

Đoàn kết trong Đảng là sức mạnh, làm nên sức mạnh của Đảng, song như Hồ Chí Minh đã nói, muốn quy tụ được cả dân tộc, Đảng cách mạng phải trong sạch, vững mạnh, đoàn kết thống nhất, “vừa là đạo đức, vừa là văn minh”, phải “tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại”. Tiên phong về trí tuệ, vững vàng về bản lĩnh chính trị, mẫu mực về đạo đức cách mạng; đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và hành động của Đảng là yêu cầu khách quan, là nguyên tắc sống còn và đó là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng càng được củng cố thì sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc càng được tăng cường. Đảng đoàn kết, dân tộc đại đoàn kết sẽ nhân nguồn sức mạnh nội lực để đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn và nội dung này đã được khẳng định trong Văn kiện các kỳ đại hội của Đảng.

Thực hiện lời dặn của Người, nhất là trong hơn 30 năm tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng đã luôn coi việc giữ gìn đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối chính trị và các nguyên tắc xây dựng Đảng là sinh mệnh của Đảng; đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng. Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng đều nhấn mạnh vai trò của đoàn kết, coi đoàn kết thống nhất trong Đảng, trước hết là ở cơ quan lãnh đạo có ý nghĩa quyết định sự thành công của cách mạng; cụ thể, Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc”.

Theo đó, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải có phẩm chất đạo đức, có vai trò tiên phong, gương mẫu và năng lực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; phải thực sự công bằng, công tâm trong xử lý công việc, thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết của tổ chức Đảng, của tập thể cơ quan, đơn vị sẽ góp phần vào việc xây dựng và củng cố khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ. Đồng thời, phải chú trọng và kịp thời phát hiện, tập trung xử lý dứt điểm tình trạng mất đoàn kết từ khi những biểu hiện này mới manh nha; chủ động, cảnh giác và đấu tranh không khoan nhượng với việc lợi dụng những mâu thuẫn trong nội bộ để kích động, chống phá, phá hoại khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và hoạt động theo quy định; mỗi tổ chức Đảng phải giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong tập thể lãnh đạo, trong nội bộ trên tình đồng chí thương yêu lẫn nhau…

Đối với những cấp ủy, tổ chức Đảng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, không thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, kiểm tra, giám sát; cán bộ lãnh đạo thiếu rèn luyện đạo đức cách mạng, sa vào cá nhân chủ nghĩa: độc đoán, chuyên quyền, kéo bè, kéo cánh, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ thì phải kịp thời tiến hành kiểm điểm làm rõ đúng sai, xử lý nghiêm những người có khuyết điểm, để củng cố sự đoàn kết thống nhất; phải kịp thời báo cáo lãnh đạo cấp trên...

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” gắn với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các Quy định, Điều lệ Đảng,... cho thấy, vẫn còn một số tổ chức Đảng có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở, không thống nhất giữa nói và làm. Trong khi đó, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ xuất hiện ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty...

Không chỉ dừng ở đó, Nghị quyết còn đồng thời nhấn mạnh và chỉ ra 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay trong tổng số 27 biểu hiện suy thoái. Cụ thể, một trong những biểu hiện đó là việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành… Thực trạng này có biểu hiện kéo dài, chậm được khắc phục, thậm chí còn có xu hướng gia tăng không chỉ ở địa bàn cơ sở. Không ít tổ chức Đảng chưa tôn trọng và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát. Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật, Điều lệ Đảng và quy định về những điều đảng viên không được làm, quy định về việc nêu gương ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực còn chưa nghiêm. Những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gia tăng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao; những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, “lợi ích nhóm”, cục bộ địa phương, tha hóa quyền lực… chưa được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, dẫn đến sự đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và hành động của một số cấp ủy còn yếu.

Trong khi đó, tác động của bối cảnh toàn cầu hóa với những thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn đan xen; với nhiều diễn biến nhanh chóng, khó lường và phức tạp càng đòi hỏi Đảng phải có quyết tâm chính trị cao, sự đoàn kết thống nhất chặt chẽ để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Hơn lúc nào hết, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng càng phải được thể hiện rõ, phải được khẳng định trong thực tiễn để làm cơ sở cho khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần phòng và chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Để giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng theo tinh thần Đại hội XII của Đảng và làm theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, trong thời gian tới, cấp ủy các cấp cần chú trọng những nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, tạo sự thống nhất về chính trị tư tưởng và các chương trình hành động; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, bởi đây là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đảm bảo thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương. Cụ thể, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”, đảm bảo công khai, cởi mở, bình đẳng, dân chủ giữa cấp trên và cấp dưới; dân chủ trên mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa; kết hợp hài hòa giữa dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp, nhất là trong xây dựng, ban hành các chỉ thị, nghị quyết, chính sách. Để thực hiện dân chủ thực chất, phải khắc phục bệnh dân chủ hình thức; khắc phục tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, độc đoán, coi thường ý kiến người khác, coi thường quần chúng,v.v.. song cũng phải ngăn ngừa việc lợi dụng dân chủ để gây rối theo kiểu tự do vô chính phủ.

Hai là, “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Coi tự phê bình và phê bình là nguyên tắc để phát triển Đảng, là thang thuốc nhằm mục đích “trị bệnh cứu người”, qua đó củng cố và tăng cường kỷ luật của Đảng, phát huy dân chủ và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Trong tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu; đồng thời, thông qua tự phê bình và phê bình trên tinh thần nêu gương, tự giác, chân thành, thẳng thắn, khách quan, trung thực, không mệnh lệnh, áp đặt,v.v.. mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải gương mẫu“tự soi, tự sửa”, giúp đồng chí và quần chúng “tự soi, tự sửa”, để mỗi người có tinh thần trách nhiệm hơn trong hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. 

Ba là, “mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, tận tâm, tận lực vì Tổ quốc và nhân dân phục vụ để “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Qua đó, tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, phải lựa chọn và xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; luôn thống nhất giữa nói và làm; có vai trò tiên phong, nêu gương, đi đầu trong mọi lĩnh vực, thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết của mỗi tổ chức Đảng, mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; đồng thời, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Bốn là, tăng cường và đẩy mạnh thực hiện công tác kiểm tra và giám sát, mở rộng trong kiểm tra và giám sát. Trong kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm với tinh thần quyết tâm cao, bản lĩnh vững vàng, giữ vững nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong nhiệm kỳ và hằng năm để sớm phát hiện những biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, những biểu hiện đoàn kết hình thức, giả hiệu, “bằng mặt không bằng lòng”... Đồng thời, tập trung xử lý dứt điểm tình trạng mất đoàn kết nội bộ, những việc lợi dụng bất đồng ý kiến, mâu thuẫn trong nội bộ dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm tan rã khối đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Năm là, đẩy mạnh, tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với các quy định về nêu gương trên các phương tiện truyền thông, nhất là Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương". Thông qua việc nêu gương, nhân rộng các tấm gương điển hình của tập thể và cá nhân để “giáo dục lẫn nhau”, thiết thực giữ gìn và củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xây dựng sự đồng thuận, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị.

50 năm sau khi Hồ Chí Minh đi xa, những điều Người trăn trở, dặn lại trong Di chúc về đoàn kết trong Đảng vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự, đặc biệt là ở những giai đoạn có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh.

TS. Đinh Quang Thành

 

Trích đăng từ trang thông tin điện tử của Ban Tuyên giáo Trung ương (tuyengiao.vn).

                               Duyệt đăng trên chuyên mục CT05-CT/TW các Website của Quận

                                                                                      TRƯỞNG BAN

 

 

                                                                                          Đặng Tấn Tuyên

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay thực chất là quá trình biến đổi từ bên trong theo chiều hướng từ đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản tiến bộ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến mức cao hơn là thay đổi lập trường, quan điểm chính trị, đạo đức, lối sống, đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân; cổ súy, ủng hộ, tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động, thậm chí chuyển sang hàng ngũ kẻ thù, chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân.

“Tự diễn biến” “tự chuyển hóa” là sự suy thoái

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là hệ quả của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống theo chiều hướng ngày càng tăng, tính chất ngày càng nghiêm trọng. Điều đó khiến cho vai trò tiên phong, gương mẫu của họ ngày càng giảm, không đủ “sức miễn dịch”, thiếu “sức đề kháng” trước những tác động tiêu cực trong xã hội, đồng lõa với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với cách mạng Việt Nam. Đó còn là biểu hiện rõ nhất của bản lĩnh chính trị không vững vàng, từ chỗ ban đầu là mơ hồ ảo tưởng, hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu lý tưởng cách mạng dẫn đến hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội…

Cụ thể hơn, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn biểu hiện ở những việc sẵn sàng tiếp nhận những thông tin trái chiều, những luận điệu ly khai, chống đối, lý luận phản động; phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ, phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; móc nối, câu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật…

Những biểu hiện trên cũng đã được V.I.Lênin chỉ ra từ những năm đầu của thế kỷ XX, dưới các biểu hiện khác nhau của những người đảng viên trong các Đảng dân chủ - xã hội Tây Âu như: tư tưởng cơ hội về chính trị, tư tưởng và tổ chức, khoác áo chủ nghĩa Mác nhưng chống chủ nghĩa Mác, đòi xét lại chủ nghĩa Mác, phủ nhận chủ nghĩa Mác… Đó chính là bọn cơ hội chủ nghĩa, tay sai của giai cấp tư sản.

Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ những biểu hiện: “Thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng… mang nặng chủ nghĩa cá nhân… không có dũng khí cách mạng, ít lo nghĩ về trách nhiệm của mình, không quyết tâm vươn lên phía trước… hững hờ như những người không có lý tưởng,… không có thái độ người làm chủ tập thể, dám nghĩ dám làm”; “ít gắn bó với tổ chức, không tin ở lực lượng và trí tuệ của tập thể. Họ sống và làm việc một cách riêng rẽ, không đoàn kết và hợp tác với người khác… tự cao tự đại, vênh vang kiêu ngạo, tự cho mình tài giỏi hơn người… coi thường những quyết định của tổ chức,… coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài… chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình… phô trương, lãng phí… sống xa hoa hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi”, “biến thành người có tội với cách mạng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái.

Để khắc phục các biểu hiện, hiện tượng đó, Người khẳng định phải: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và mỗi “người đảng viên chẳng những phải ra sức rèn luyện và tu dưỡng, trong lúc gian khổ khó khăn, trong lúc thất bại, mà còn và càng phải rèn luyện và tu dưỡng trong lúc thuận lợi, trong lúc thành công”.

Bản lĩnh chính trị là sự thể hiện “tính đảng”

 Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, bản lĩnh chính trị là phẩm chất tuyệt đối cần thiết; là sự thể hiện “tính đảng”; là trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm đều phải: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”; “quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân…, đó là đạo đức cách mạng, đó là tính Đảng, tính giai cấp”. Bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên thể hiện ở sự kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng - độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định đường lối đổi mới, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ...

Bản lĩnh chính trị của Đảng còn được thể hiện trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên; thể hiện ở sự vững vàng, kiên định, không dao động trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; quyết tâm phấn đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ, vì lợi ích của Đảng và của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống phá chế độ của các thế lực thù địch, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên không phải tự nhiên mà có. Đó là sản phẩm của quá trình giáo dục, bồi dưỡng, học tập và rèn luyện thường xuyên, kiên trì, bền bỉ trong thực tiễn phong trào cách mạng của mỗi người. Khi mỗi người, trong mọi thời điểm thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, luôn thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình, có tinh thần vững vàng, niềm tin chắc chắn và sự kiên định thì “phú quý không dụ dỗ được ta, nghèo khổ không lay động được ta, oai lực không dọa nạt được ta. Mà khó khăn gì chúng ta cũng vượt qua được, việc gì chúng ta cũng làm được”.

 

 Phải rèn luyện bản lĩnh chính trị

  “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là do sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, v.v.. Trong đó, có “không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””.

V.I.Lênin từng chỉ rõ, các thế lực thù địch không ai có thể đánh đổ được chúng ta, trừ chính những sai lầm của chúng ta và “không một ai trên thế giới này có thể làm mất được uy tín của những người Mácxít cách mạng nếu họ không tự làm mất uy tín của họ”. Vì vậy, phải rèn luyện bản lĩnh chính trị để phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

Theo đó, các cấp ủy cần tập trung thực hiện tốt các biện pháp căn cốt sau:

Một là, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông” dẫn tới khuyết điểm và trước hết, nguy hiểm nhất là “khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan” mà “nếu không chữa ngay, để nó lây ra, thì có hại vô cùng”. Vì thế, học tập lý luận chính trị, đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị là công việc quan trọng, cần thiết, cấp bách, thường xuyên và lâu dài của mỗi tổ chức, cán bộ, đảng viên. Trau dồi, bồi dưỡng về lý luận chính trị; khắc phục những hạn chế trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng; giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng... sẽ giúp cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc bản chất cách mạng, khoa học; những nguyên lý, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cộng sản, đạo đức cách mạng; thấu suốt đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Từ đó có nhận thức chính trị, tình cảm chính trị đúng đắn, có thế giới quan, phương pháp luận khoa học. Trong học tập, phải gắn lý luận với thực tiễn, phục vụ nhu cầu công tác, phát huy tính độc lập, tích cực, chủ động, sáng tạo, “học đi đôi với hành”. Đa dạng hóa các phương thức giáo dục lý luận chính trị theo hướng thiết thực, hiệu quả nhằm nâng cao khả năng “tự miễn dịch, tự đề kháng” trước những tác động tiêu cực, trái chiều.

Hai là, thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân.

Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, phát huy vai trò nêu gương, thống nhất giữa nói và làm của mỗi cán bộ, đảng viên nhằm tăng cường “sức đề kháng” chống lại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị phải luôn gắn với “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” theo phương châm mọi tổ chức, cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục và rèn luyện hằng ngày.

Trong đó, gắn thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng và Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”… Thực hiện tốt chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đối với việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết và đưa vào tiêu chí thi đua, đánh giá xếp loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền; kịp thời nêu gương người tốt, việc tốt, nhân rộng các tập thể, cá nhân tiêu biểu đi liền với nghiêm túc phê phán những biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Tạo không khí thi đua thiết thực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động ở từng cơ quan, địa phương, đơn vị.

Ba là, đổi mới công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, 6, 7 khóa XII.

Bố trí, sử dụng cán bộ đúng chỗ, đúng lúc, đúng năng lực, sở trường, đúng việc, đúng người. Lựa chọn và tìm được người tài đức xứng đáng với sự tin tưởng của tập thể và niềm tin nhân dân. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, luân chuyển, bố trí cán bộ. Thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, với đổi mới cơ cấu, chức năng của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể trong hệ thống chính trị. Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại theo hướng thiếu cái gì đào tạo, bồi dưỡng cái ấy nhằm nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng của cán bộ, đảng viên để làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn.

Tăng cường luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý; tăng cường cán bộ cho các lĩnh vực và địa bàn cần thiết. Khắc phục tình trạng cục bộ, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ và sự khép kín trong từng vùng, ngành, từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Tạo điều kiện để cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn. Hoàn thiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài, thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng, không phân biệt những người trong Đảng hay ngoài Đảng, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của tất cả các cấp, ngành trong hệ thống chính trị.

Bốn là, nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng.

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng - nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở - để mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên xứng đáng là “người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Cán bộ, đảng viên phải tiên phong gương mẫu, vững vàng trước mọi biến động của tình hình chính trị - xã hội.

Nâng cao chất lượng sinh hoạt của chi bộ, chăm lo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh; gắn nâng cao chất lượng ra nghị quyết với tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát. Chủ động khắc phục những biểu hiện tiêu cực, sai trái, hạn chế, khuyết điểm. Kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, hành động thù địch để bảo vệ nền tảng, đường lối, quan điểm của Đảng.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; thực hiện Điều lệ Đảng và quy định về những điều đảng viên không được làm; tự soi, tự sửa các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Có cơ chế để nhân dân tham gia vào công tác xây dựng Đảng; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí truyền thông... trong kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên.

Gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng; kiên quyết, nghiêm minh xử lý đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm và những tổ chức đảng yếu kém.

Tăng cường kiểm tra trách nhiệm chính trị, vai trò nêu gương của người đứng đầu trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm.

Năm là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Chủ động triển khai các biện pháp, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị chức năng thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn, vô hiệu hóa những hoạt động phá hoại chính trị nội bộ. Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp luôn nắm vững và thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đồng thời, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo về công tác này. Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên; gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với xây dựng cơ quan, đơn vị, địa bàn cơ sở an toàn, vững chắc về mọi mặt...

Thiếu tướng, PGS.TS. Nguyễn Văn Thế

Phó Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Trích đăng từ trang thông tin điện tử của Ban Tuyên giáo Trung ương (tuyengiao.vn).

 

 

SỰ SUY THOÁI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ -

NHÌN TỪ VẤN ĐỀ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN NGHỈ HƯU XIN NGHỈ

SINH HOẠT ĐẢNG VÌ LÝ DO SỨC KHỎE

Trên cơ sở tiếp cận nguồn tài liệu của một số đảng bộ địa phương, bài viết đề cập vấn đề một số cán bộ, đảng viên sau khi nghỉ hưu lấy lý do sức khỏe để xin thôi không tham gia sinh hoạt Đảng. Từ đó, đề xuất đánh giá khách quan, toàn diện về một vấn đề xã hội đã và đang diễn ra, góp phần vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Khi tiếp cận các tài liệu, văn kiện này để phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, chúng tôi thấy nổi lên một vấn đề rất đáng quan tâm.

Đó là từ năm 1991 đến năm 2017, có không ít cán bộ, đảng viên xin nghỉ sinh hoạt Đảng, sau khi nghỉ hưu vì lý do sức khỏe và một số lý do khác. Vấn đề này rất ít được các tài liệu, văn kiện Đại hội Đảng bộ các cấp đề cập tới, nếu có, cũng chỉ chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn, thậm chí có nhiều đảng bộ, từ năm 1991 đến năm 2017, không hề nhắc đến thực tế đó, cho dù, có việc một số cán bộ, đảng viên sau khi nhận quyết định nghỉ hưu được một vài năm đã vin vào lý do sức khỏe yếu để xin thôi sinh hoạt Đảng tại các chi bộ, đảng bộ địa phương nơi mình cư trú. Thật khó để xác định lý do sức khỏe mà những cán bộ, đảng viên này đưa ra là thật hay chỉ là một nguyên cớ thiếu tính thuyết phục đối với các cán bộ, đảng viên cùng sinh hoạt trong một chi bộ, đảng bộ, rộng hơn là với cộng đồng dân cư sống trên cùng một thôn, xóm, ngõ, ngách hay phường, xã... 

Cho dù trong Điều lệ Đảng và các văn bản hiện hành của Đảng không có điều khoản nào bắt buộc cán bộ, đảng viên, vì lý do sức khỏe, bệnh tật thường xuyên vẫn phải tham gia sinh hoạt Đảng, tuy nhiên, vấn đề cán bộ, đảng viên sau khi nghỉ hưu, lấy lý do vì sức khỏe yếu, ốm đau, bệnh tật hoặc một số lý do khác để xin nghỉ sinh hoạt Đảng ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước là một vấn đề lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống chính trị - xã hội đã diễn ra thời gian qua, cần được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, nhằm giải quyết vấn đề đã và đang đặt ra trong công tác xây dựng Đảng. Điều này càng trở nên cấp thiết hơn, khi mà Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều năm qua đã, đang tiếp tục đẩy mạnh công cuộc chỉnh đốn Đảng, nhằm loại bỏ những cán bộ, đảng viên không đủ phẩm chất đạo đức, lập trường chính trị ra khỏi bộ máy tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, lấy lại niềm tin của đại bộ phận quần chúng nhân dân đối với Đảng. Do đó, tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực trạng một số ít cán bộ, đảng viên ở các chi bộ, đảng bộ trên khắp 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, lấy lý do sức khỏe không bảo đảm để xin nghỉ sinh hoạt Đảng trong suốt phần đời còn lại thực sự là một vấn đề bức thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn không chỉ trước mắt mà cả lâu dài.

Vấn đề đặt ra ở đây là: Liệu thực trạng cán bộ, đảng viên sau khi nghỉ hưu lấy lý do sức khỏe để xin nghỉ sinh hoạt Đảng, hay ra khỏi Đảng có phải là những biểu hiện cụ thể của sự suy thoái tư tưởng chính trị, trong từng cán bộ, đảng viên hay không? Tuy số liệu thống kê chưa đầy đủ, nhưng thử hỏi: trong số hàng ngàn cán bộ, đảng viên xin nghỉ sinh hoạt Đảng ở tất cả các chi bộ, đảng bộ thuộc 63 tỉnh, thành phố của cả nước từ năm 1991 đến nay, tỷ lệ cán bộ, đảng viên vì ốm đau, bệnh tật thường xuyên, sức khỏe không cho phép để tham gia sinh hoạt Đảng tại các chi bộ, đảng bộ là bao nhiêu, hay lý do sức khỏe chỉ là một trong số ngàn lẻ lý do để họ xin nghỉ sinh hoạt Đảng? 

Thực tế đó đã tồn tại nhiều năm qua nhưng các cấp ủy ở các địa phương vẫn chưa có các giải pháp, biện pháp cụ thể, hữu hiệu để có thể ngăn chặn, đẩy lùi. Điều đáng quan tâm là trong số đó, có cả những cán bộ, đảng viên, từng giữ cương vị này, cương vị khác trong hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng trước khi họ nghỉ hưu và điều kiện kinh tế gia đình thuộc vào diện hộ khá, hộ giàu, con cái thành đạt trong cuộc sống... 

Vậy, vì sao, thay vì gương mẫu tham gia sinh hoạt Đảng tại các chi bộ cơ sở nơi họ cư trú, tiếp tục cống hiến cho công cuộc xây dựng, phát triển quê hương, đất nước bằng những việc làm cụ thể, họ lại xin nghỉ sinh hoạt Đảng? Động cơ, mục đích của số ít cán bộ, đảng viên này khi lấy lý do sức khỏe để xin nghỉ sinh hoạt Đảng là gì? Và, liệu họ có nghĩ tới những ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đối với các chi bộ, đảng bộ và cộng đồng cư dân nơi họ sinh sống khi họ không còn đứng trong hàng ngũ của Đảng nữa hay không? Đây có phải là một trong những biểu hiện cụ thể của sự suy thoái tư tưởng chính trị hay không? Giải pháp nào để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng đó?...

Từ thực tế trên, chúng tôi cho rằng cần phải tiến hành, khảo sát, nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng cán bộ, đảng viên xin nghỉ sinh hoạt Đảng nói chung và cán bộ, đảng viên nghỉ hưu lấy lý do sức khỏe để xin nghỉ sinh hoạt Đảng nói riêng trên phạm vi cả nước.

Cần xem xét một cách nghiêm túc, thẳng thắn vấn đề, cán bộ, đảng viên sau khi nghỉ hưu xin nghỉ sinh hoạt Đảng vì những lý do khác nhau, để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, đồng thời đưa ra những giải pháp cụ thể, hữu hiệu, sát hợp với từng chi bộ, đảng bộ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thực trạng trên.

PGS,TS. Nguyễn Quang Hồng, Trường Đại học Vinh

Trích đăng từ trang thông tin điện tử của Tạp chí Cộng sản (tapchicongsan.org.vn)

     Duyệt đăng trên chuyên mục CT05-CT/TW các Website của Quận

                                                                                      TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                          Đặng Tấn Tuyên

 

     Thực hiện Kế hoạch ký kết liên tịch giữa 02 đơn vị Hội Chữ thập đỏ,  và Phòng Giáo dục - Đào tạo quận Tân Bình về việc tổ chức hội thi kỷ năng sơ cấp cứu cho các em học sinh khối trường học trên địa bàn quận Tân Bình. Sáng ngày 06/4/2019, tại Trường giáo dục thường xuyên quận Tân Bình.  Hội Chữ thập đỏ và Phòng Giáo dục - Đào tạo Tân Bình tổ chức “Hội thi kỷ năng sơ cấp cứu khối trường học dành cho bậc tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông năm 2019”.

IMG4815
IMG4820
IMG4825
IMG4827
IMG4828
IMG4862
IMG4868
IMG4871

     Đến dự hội thi có Đại diện lãnh đạo 2 đơn vị cùng 300 em thí sinh đại diện cho 46 đơn vị ( 26 trường tiểu học, 18 trường trung học cơ sở và 02 trường THPT là Nguyễn Thượng Hiền và trung tâm giáo dục thường xuyên của quận Tân Bình về tham gia hội thi) và rất đông cổ động viên đến cổ vũ cho hội thi. 

     Hội thi chia làm 02 cụm thi: Cụm 1 Khối tiểu học gồm có 26 đội; Cụm 2: Khối trung học cơ sở và trung học phổ thông gồm có 20 đội. Hình thức thi chia làm 02 phần: phần thi trắc nghiệm về kiến thức về 5 phương pháp sơ cấp cứu các đơn vị đều phải tham gia. Phần thi thực hành chia làm 02 nội dung thi: về phần thi các phương pháp sơ cấp cứu vẫn quy định mỗi đội là 5 thí sinh tham gia (các em học sinh cử 04 người thực hành và 01 người là nạn nhân), trong đó mỗi đội thi bốc thăm 01 câu hỏi xử lý tình huống SCC do Ban Tổ chức chuẩn bị với thời gian quy định là 7 phút/đội. Nội dung thực hành sơ cấp cứu tập trung vào những tình huống tai nạn giả định thường xảy ra trong hoạt động nhà trường như: Băng bó vết thương, cố định gãy xương, hô hấp nhân tạo … Sau gần 2 giờ tranh tài sôi nổi, kết quả hội thi như sau:

     Cụm 1: khối tiểu học

     Giải nhất trường TRần Quốc Tuấn; giải nhì là đơn vị trường Yên Thế; trường Nguyễn Văn Kịp nhận giải ba và đồng giải khuyến khích thuộc về 2 đơn vị: trường Đống Đa, Nguyễn Văn Trỗi.

     Cụm 2: khối trung học cơ sở và trung học phổ thông

     Giải nhất thuộc về trường THCS Lý Thường Kiệt; giải nhì là đơn vị trường THCS Quang Trung; trường THCS Phạm Ngọc Thạch nhận giải ba và giải khuyến khích thuộc về đơn vị: trường THCS Âu Lạc.

                                                            BTV – ĐỖ VĂN ÁNH

Thứ nhất: Ủy ban nhân dân quận Tân Bình khẳng định về pháp lý khu đất công trình công cộng Phường 6, Tân Bình LÀ ĐẤT CÔNG, cụ thể:

- Các thửa 128-5, 129-5 và một phần 131-101-5 có nguồn gốc do Quốc gia Việt Nam đứng bộ, phần đất này có diện tích khoảng 4,08 ha trước đây chính quyền Pháp thuộc sử dụng làm bãi ăng-ten cho đài phát tín, sau đó Nha Giám đốc Viễn thông quốc ngoại chế độ Sài Gòn quản lý sử dụng.

- Một phần thửa 126-5 thuộc sổ địa bộ 6, diện tích khoảng 2,7 ha có nguồn gốc do ông Lê Phát Đạt làm chủ sử dụng từ năm 1900, sau đó ông Đạt tặng cho tổ chức từ thiện Pháp. Sau đó Nha Giám đốc Viễn thông quốc ngoại chế độ Sài Gòn quản lý sử dụng. Đến năm 1955, theo Công văn số S.P 55.011 ngày 17/02/1955 của Đại Úy trưởng trạm phát tín Moinard cho phép những người cư trú giáp phía Tây khu đất được canh tác dưới cột ăng-ten vào ban ngày.

Ngày 30/01/1967, Bộ Canh Nông ban hành Nghị định số 99-BCNHCTC/3/HĐ cho nhập vào khu vực điền thổ Sài Gòn Hòa Hưng phần đất nguyên thuộc xã Phú Thọ Hòa (Gia Định) sáp nhập vào Đô Thành Sài Gòn, tại Điều thứ nhất quy định: phần đất sáp nhập vào Đô Thành Sài Gòn gồm các lô số 10, 101-5, 102-5, 103-5, 123-5, 126-5, 127-4, 128-5, 129-5 và 131-101-5 tờ số 2 xã Phú Thọ Hòa (Gia Định) nay được nhập vào khu vực điền thổ Sài Gòn Hòa Hưng để thuộc thẩm quyền Ty Điền địa Sài Gòn.

Sau ngày 30/4/1975, Trung tâm Viễn thông 3 - Tổng cục Bưu điện tiếp quản, đến ngày 14 tháng 4 năm 1977, Nhà nước trực tiếp quản lý theo Điều 1 Phần IV theo Quyết định số 111/CP của Hội đồng Chính phủ và giao cho Trung tâm Viễn thông 3 tiếp tục quản lý, sử dụng làm Đài phát tín Chí Hòa nhằm phục vụ thông tin liên lạc của đất nước trong đó có sử dụng các cột ăng-ten để truyền thông. Năm 2008, Ủy ban nhân dân Thành phố có quyết định giao khu đất cho Ủy ban nhân dân quận Tân Bình thực hiện dự án công trình công cộng phục vụ dân sinh - xã hội, đáp ứng nhu cầu của Nhân dân về giáo dục và giao thông.

Quá trình đăng ký kê khai của các hộ trực canh trên phần đất công trình công cộng phường 6 chưa có hộ, cá nhân nào và một tổ chức nào khác ngoài Nhà nước cung cấp được giấy tờ pháp lý công nhận quyền sử dụng đất của mình đối với các thửa đất hoặc một phần hoặc toàn bộ khu đất.

Thứ hai: Ủy ban nhân dân quận Tân Bình khẳng định việc tổ chức cưỡng chế việc xây dựng vi phạm pháp luật tại khu đất công trình công cộng Phường 6 được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc cưỡng chế nhằm thực hiện kỷ cương, trật tự xây dựng, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và ngăn chặn tình trạng xây dựng và sang nhượng trái pháp luật tràn lan, phá vỡ quy hoạch tại khu đất công trình công cộng phường 6 với tổng diện tích là 49.320 m2.

Thứ ba: Ủy ban nhân dân quận Tân Bình khẳng định ĐƠN GIÁ HỖ TRỢ đất trực canh tại khu đất công cộng phường 6 là 7.055.000 đồng/m2, đây là giá hỗ trợ cao nhất và sẽ không thay đổi hoặc điều chỉnh đơn giá hỗ trợ.

Về việc chi hỗ trợ trực canh đối với các hộ tại khu đất công trình công cộng phường 6, tính đến ngày 18/3/2019, Quận đã tiếp xúc 119 trường hợp, số hộ đã thực hiện kê khai là 79 hộ, còn 5 hộ chưa tiếp xúc được. Trong đợt 1: Quận đã tạm chi 50% kinh phí với tổng số tiền là 52 tỷ 480 triệu đồng. Đợt 2: Quận đã chi thêm 7 tỷ 761 triệu đồng, hiện nay đang tiếp tục hoàn tất thủ tục việc chi hỗ trợ cho các hộ trực canh.

Thứ tư: Ủy ban nhân dân quận Tân Bình khẳng định không có việc phân lô để bán nền đối với khu đất công trình công cộng Phường 6 như xuyên tạc của một số đối tượng xấu chống phá. Toàn bộ khu đất công này sẽ được Ủy ban nhân dân quận tiến hành xây dựng khu trường học công lập đạt chuẩn quốc gia do Ủy ban nhân dân quận Tân Bình làm chủ đầu tư (gồm 3 bậc học: 20 lớp Mầm non, 30 lớp Tiểu học và 45 lớp Trung học cơ sở) trên khu đất công trình công cộng có diện tích 49.320 m2 tọa lạc tại Phường 6, quận Tân Bình là một trong những công trình trọng điểm của quận. Dự án sau khi hoàn thành sẽ giúp quận Tân Bình mở rộng và phát triển mạng lưới giáo dục theo hướng hiện đại, đáp ứng được nhu cầu học tập của con, cháu Nhân dân Phường 6 và một số phường lân cận, dự án được ngành giáo dục và Nhân dân đồng tình ủng hộ. Hiện nay, dự án đang được các cơ quan chức năng tập trung hoàn tất các thủ tục để triển khai thực hiện.

Đồng thời với việc thực hiện dự án cụm trường học, Quận Tân Bình sẽ tiến hành mở rộng giao thông đường Hưng Hóa và đường Chấn Hưng tính từ mép nhà dân mở rộng về phía khu đất công trình công cộng không làm ảnh hưởng đến diện tích nhà dân, góp phần kết nối giao thông, đồng bộ hạ tầng khu vực như điện, nước, thoát nước, tạo sự thông thoáng, chỉnh trang không gian đô thị, cải thiện điều kiện sinh hoạt của Nhân dân, điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.

          Thứ năm: Ủy ban nhân dân quận Tân Bình đề nghị Nhân dân, các hộ trực canh trên đất công trình công cộng Phường 6 tiếp tục đến Ủy ban nhân dân Phường 6 thực hiện việc kê khai hoặc bổ sung các giấy tờ có liên quan để quận hoàn thành việc chi hỗ trợ sớm nhất; đồng thời đề nghị Nhân dân không nghe theo lời xuyên tạc, kích động, xúi giục của những kẻ chống phá; mạnh dạn tố giác những người có hành vi chống phá, cản trở, đe dọa người dân, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý đất công trình công cộng và tiến độ thực hiện dự án; giúp các cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật.

Đây là tổ chức từ thiện xã hội được toàn thế giới và nhà nước công nhận. Là đơn vị tiếp nhận các nguồn cứu trợ, tại trợ và là nơi hỗ trợ, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo trong xã hội không phân biệt địa lý, tôn giáo và dân tộc.

Khi có nhu cầu cần liên hệ vui lòng liên hệ trực tiếp hoặc gọi điện thoại số: (08) 39491383

 

Thành viên Ban biên tập

Tổng biên tập chịu trách nhiệm xuất bản:
Đỗ Văn Ánh - PCT Hội CTĐ Quận
Điện thoại: 0909 349 533

Tổng hợp & thư ký:
1/ Vũ Thị Hồng Gấm
2/ Nguyễn Thị Kiều Oanh

Kỹ thuật và bảo trì:
1/ Nguyễn Đức Cường
(0168 992 3979)