Nhận thức về Tư tưởng - Chính trị

Nhận thức về Tư tưởng - Chính trị (37)

Thời gian gần đây, các tổ chức phản động lưu vong như “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời,” “Triều đại Việt Nguyễn”... đã liên tiếp có các hoạt động khủng bố, phá hoại, vi phạm pháp luật Việt Nam.

Quá trình điều tra, ngăn chặn các âm mưu của các thế lực thù địch, các cơ quan chức năng đã chỉ ra những thủ đoạn khủng bố, chống phá của những tổ chức phản động và xử lý nghiêm những đối tượng gây ra.

Thành lập nhóm vũ trang để khủng bố

Theo tài liệu của các cơ quan chức năng, tổ chức phản động lưu vong “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” do Đào Minh Quân (tức Đào Văn, sinh năm 1952, quốc tích Mỹ, từng là quân nhân chế độ Việt Nam Cộng hòa) cầm đầu thành lập tại Mỹ.

Tổ chức này móc nối với người trong nước hoặc cho người Việt ở hải ngoại nhập cảnh vào Việt Nam tiến hành các hoạt động chống phá.

Cuối năm 2016, Đào Minh Quân, Phạm Lisa (Phạm Thị Anh Đào, sinh năm 1979, quốc tịch Mỹ) và một số đối tượng thông qua mạng xã hội chỉ đạo số cơ sở nội địa tăng cường lôi kéo, phát triển lực lượng; tập hợp, thành lập các nhóm vũ trang “Phượng Hoàng,” “Mãng Xà,” “Biệt động quân,” “Vệ binh quốc gia,” “Đại Việt”... thực hiện ý đồ ba sạch (đốt sạch, giết sạch, phá sạch) nhằm khủng bố, ám sát cán bộ, phá hoại các mục tiêu, công trình trọng điểm trong nước.

Bị sự dụ dỗ của các đối tượng ở nước ngoài, thành viên của các nhóm vũ trang trên đã tích cực triển khai những hoạt động khủng bố vô cùng nguy hiểm.

Trong đó phải kể đến nhóm vũ trang có tên “Phượng Hoàng” gồm các đối tượng Thái Hàn Phong, Nguyễn Đức Sinh, Nguyễn Ngọc Tiền, Đặng Hoàng Thiện, Nguyễn Thị Chung và Ngô Thụy Tường Vy đã thực hiện hành vi đốt kho tạm giữ xe vi phạm giao thông của Công an thành phố Biên Hòa (Đồng Nai) bằng bom xăng và đặt bom xăng tại sân bay Tân Sơn Nhất vào tháng 4/2017.

Gần đây nhất là nhóm đối tượng thuộc nhóm phản động “Triều đại Việt Nguyễn” - tổ chức tách ra từ tổ chức phản động “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” đã thực hiện việc đánh bom trụ sở Công an Phường 12, quận Tân Bình khiến 3 người bị thương.

Kẻ chủ mưu là Nguyễn Khanh (sinh năm 1964, ngụ xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai) khai nhận có mối quan hệ mật thiết với đối tượng lưu vong tên Ngô Hùng (tự xưng là Tổng tư lệnh của nhóm Triều đại Việt Nguyễn, hiện ở Mỹ).

Ngô Hùng phong chức cho Khanh là “Tỉnh trưởng khu tự trị Đồng Nai” rồi chuyển 120 triệu đồng cho Khanh và giao nhiệm vụ cho đối tượng này tổ chức người chế tạo chất nổ để gây nổ tại trụ sở các cơ quan chính quyền.

Có thể thấy, những tổ chức phản động lưu vong đã không chỉ còn lợi dụng những vấn đề xã hội trong nước để kích động người dân tham gia biểu tình như trước mà đã tổ chức, chỉ đạo những cơ sở trong nước có hành động khủng bố vũ trang nguy hiểm, không màng đến sự nguy hiểm cho người dân và cả các thành viên thực hiện.

Xử lý nghiêm minh

Nhận diện rõ âm mưu, hành động khủng bố nguy hiểm ngày càng gia tăng của các tổ chức phản động lưu vong, các cơ quan điều tra, cơ quan tố tụng đã tập trung lực lượng, nhanh chóng điều tra truy xét, bắt giữ và đưa ra xét xử những đối tượng khủng bố phá hoại, giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Nói về quá trình điều tra truy xét nhóm đối tượng gây nổ tại trụ sở Công an Phường 12, quận Tân Bình, Thiếu tướng Phan Anh Minh, Phó Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ nhận định ban đầu của ban chuyên án, vụ án đặc biệt nghiêm trọng này xảy ra có thể xuất phát từ nhiều động cơ nhưng động cơ phá hoại do bọn phản động, khủng bố thực hiện là khả năng cao nhất.

Trích xuất camera an ninh cho thấy hai đối tượng gây nổ sau khi tẩu thoát đã dừng lại gần khu vực chợ Bà Chiểu (Bình Thạnh) để cởi áo khoác ở bên ngoài rồi theo hướng cầu Sài Gòn đi Đồng Nai.

Các lực lượng phá án đã rà soát hàng trăm đối tượng nằm trong diện nghi vấn để sàng lọc và phát hiện chính Nguyễn Tuấn Thành (sinh năm 1990) là kẻ chế tạo quả nổ cung cấp cho các đối tượng gây án.

Ngày 24/6, khi phát hiện Thành đi chơi cùng nhóm bạn ở thị xã Long Khánh (Đồng Nai), các trinh sát đã khống chế bắt giữ.

Từ đây, nút thắt của vụ án được tháo gỡ và kẻ chủ mưu Nguyễn Khanh và các đồng phạm lần lượt sa lưới. Hiện Cơ quan Công an đang hoàn thiện hồ sơ, sớm đưa các đối tượng ra chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Ngoài vụ án trên, liên quan đến những vụ tụ tập đông người, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ thời gian vừa qua trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh những ngày đầu tháng 6/2018, Công an Thành phố Hồ Chí Minh cho biết đến nay, Cơ quan điều tra đã khởi tố 3 vụ án với 3 đối tượng về tội “Chống người thi hành công vụ,” 1 vụ với 4 đối tượng về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản,” 1 vụ 1 đối tượng về tội “Gây rối trật tự công cộng,” 1 vụ 1 đối tượng về tội “Phá rối an ninh.”

Đối với hành vi khủng bố, Nhà nước Việt Nam đã chủ động phát hiện, ngăn chặn, xử phạt nghiêm minh các đối tượng khủng bố, xâm phạm đến an ninh quốc gia.

Tại phiên tòa xét xử nhóm đối tượng đặt bom xăng sân bay Tân Sơn Nhất và đốt kho tạm giữ xe vi phạm giao thông của Công an thành phố Biên Hòa (Đồng Nai), Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định, các bị cáo đã bị các đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài lợi dụng, lôi kéo, kích động tham gia vào tổ chức phản động, chống đối lại chính quyền và nhân dân bằng nhiều hình thức như tuyên truyền xuyên tạc trên mạng xã hội, tham gia biểu tình, tuyển dụng thành viên, chế tạo vũ khí…

Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh quốc gia, xâm phạm vào tài sản, sức khỏe của nhân dân.

Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc để răn đe, phòng ngừa chung. Từ đó, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên phạt các bị cáo từ 5-16 năm tù về tội “Khủng bố chống chính quyền nhân dân.”

Tới đây, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục đưa ra xét xử 12 bị cáo thuộc tổ chức phản động lưu vong “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” của Đào Minh Quân về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”; xét xử những đối tượng tham gia tụ tập đông người gây rối trật tự công cộng.

Đây tiếp tục là những biện pháp nghiêm khắc, răn đe những đối tượng trong và ngoài nước có âm mưu khủng bố, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam; đồng thời cảnh báo người dân nhìn rõ thủ đoạn, chiêu trò của các thế lực thù địch, không để bị lợi dụng tham gia tụ tập đông người, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên của nhân dân cả nước.

Theo ông Võ Văn Hoan, Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trong thời gian qua, ảnh hưởng của mạng xã hội ngày càng lớn, nhiều thông tin tiêu cực, sai lệch được phổ biến, dễ tiếp cận hơn cả các thông tin chính thống của các cơ quan báo chí.

Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, theo dõi xuyên suốt những thông tin trên mạng xã hội để có biện pháp cụ thể, không để tình trạng thông tin không đúng sự thật tràn lan trên mạng xã hội.

Các cơ quan chức năng của Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục triển khai đồng bộ nhiều giải pháp giữ gìn an ninh trật tự xã hội; chú trọng công tác tuyên truyền để nhân dân hiểu đúng, hiểu rõ những chính sách của Đảng và Nhà nước chứ không để kẻ xấu tung tin sai lệch, lợi dụng kích động./.

Trích nguồn từ trang cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh  

 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

Đặng Tấn Tuyên

 

Tóm tắt: Thông tin xấu, độc trên mạng xã hội gây tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc. Do vậy, cần nhận diện thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, vạch trần những thủ đoạn của những đối tượng đưa thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, đề xuất các biện pháp chủ động phòng chống, góp phần vào cuộc đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ”, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.

  1. Mặt trái của mạng xã hội

Mạng xã hội là hệ thống những mối quan hệ giữa con người với nhau trên nền tảng internet với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Những người tham gia vào mạng xã hội gọi là cư dân mạng. Trên thế giới có hàng trăm mạng xã hội khác nhau. Các trang mạng xã hội phổ biến như Facebook, Youtube, WhatsApp, Skype, Qzone, Wechat, Instagram, Twitter, Flickr, Google Plus, Go.vn, Baidu Tieba. Ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều mạng xã hội, trong đó có một số mạng xã hội phổ biến, đó là Facebook, Zalo, Youtube, Twitter, Instagram, Google Plus, Go.vn, Tinhte…

Internet và mạng xã hội mang lại nhiều giá trị tích cực như: cho phép tìm kiếm thông tin dễ dàng; gặp gỡ, giao lưu, gắn kết cộng đồng, trao nhận, chia sẻ tình cảm; tìm kiếm việc làm, quảng cáo, kinh doanh và giải trí. Sự xuất hiện của mạng xã hội đã tạo ra những giá trị mới, đem lại hiệu quả cho nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển giáo dục – đào tạo và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Tuy nhiên, mạng xã hội cũng ẩn chứa nhiều hiểm họa khó lường đối với người dùng nếu thiếu cảnh giác. Người dùng mạng xã hội có thể bị xâm phạm đời tư khi đăng nhập một tài khoản e-mail, khi trò chuyện, gửi thư, ảnh hoặc tài liệu. Có nguy cơ lừa đảo về kinh tế, mất an toàn cho cá nhân và gia đình. Dễ bị đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội như trộm cắp, chiếm đoạt tài sản, bắt cóc tống tiền. Quá trình sử dụng mạng xã hội, nếu người dùng chủ quan, đơn giản sẽ bị mất định hướng, có thể dẫn tới vô tình hoặc cố ý tán phát những thông tin xấu, độc, làm lộ thông tin bí mật nhà nước, gây hại cho cộng đồng; thậm chí tiếp tay cho các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước.

  1. Nhận diện thông tin xấu, độc

Những thông tin sai trái, bịa đặt, bóp méo, xuyên tạc sự thật, lẫn lộn đúng sai, thật giả, hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, thông tin chưa được kiểm chứng gây ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức; thông tin có những ngôn từ thô tục, nội dung phản cảm, soi mói, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân, vi phạm chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục; kích động đồi trụy, bạo lực… được coi là thông tin xấu, độc.

Một số dạng thông tin xấu, độc hiện đang lưu hành trên mạng xã hội nước ta là: (1) Thông tin chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam, hòng phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; (2) Xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng ta, phủ nhận những thành tựu của sự nghiệp đổi mới; (3) Xuyên tạc lịch sử dân tộc, nhất là lịch sử các cuộc kháng chiến, các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta; (4) Xuyên tạc thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phủ nhận công lao to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta; Vu cáo, bôi nhọ, giả mạo các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh trong quân đội; (5) Kích động xu hướng ly khai, phá hoại, sự thống nhất quốc gia, dân tộc, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; (6) Truyền bá lối sống ích kỷ vụ lợi, xa hoa, trụy lạc, bạo lực và thù hận (hate speech) đối với cá nhân và tổ chức; (7) Phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, tuyên truyền, áp đặt các giá trị văn hóa và lối sống phương Tây; (8) Lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin, mật khẩu, phát tán virus…

Thủ đoạn thông tin xấu, độc trên mạng xã hội rất đa dạng, tinh vi. Các đối tượng xấu thường núp dưới vỏ bọc các tổ chức “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ”… để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, quan điểm, cương lĩnh, nền tảng tư tưởng của Đảng, nhất là những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”. Lợi dụng một số cá nhân thoái hóa, biến chất về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, hoặc có tham vọng chính trị cao, thành lập các hội, fanpage… làm cơ quan ngôn luận, địa chỉ hoạt động cho tổ chức “dân chủ” trên mạng. Lợi dụng mạng xã hội phát tán rộng rãi các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung xấu, độc, phản động, từ đó kích động hình thành các hoạt động như tuần hành, biểu tình, rải truyền đơn, tụ tập kêu gọi chống đối cán bộ địa phương, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống phá chính quyền, chia rẽ khối đoàn kết giữa Đảng và nhân dân.

Các đối tượng tung tin thường sử dụng các website, dịch vụ thư điện tử (e-mail) và các trang mạng xã hội (Facebook), Zalo (các dịch vụ chat, nhắn tin, hội thoại), truyền thoại (VoIP), diễn đàn (forum), Twitter, Youtube, Myspace… để đưa thông tin xấu độc. Cách thức tiến hành của chúng thường là tổng hợp tin tức từ các báo chính thống để tạo sự khách quan, sau đó cài dần các thông tin xấu, độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật, luận điệu sai trái. Người dùng truy cập thông qua đường dẫn (link) của bạn bè trên mạng xã hội dễ dàng “mắc mưu”, bị dẫn dắt và bị động trong việc tiếp nhận thông tin xấu, độc đó. Thực tế cho thấy, đã có những người do nhẹ dạ, cả tin, thiếu bản lĩnh chính trị nên đã tin theo những luận điệu của các thế lực thù địch, từ đó bị chúng dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo và khống chế để làm việc phục vụ cho mưu đồ của chúng.

Một thủ đoạn khác mà các đối tượng thù địch sử dụng là thiết lập trang mạng mạo danh tổ chức hoặc cá nhân, đưa ra những thông tin không đúng sự thật nhằm tạo ra hình ảnh méo mó về đất nước và con người Việt Nam, về các tổ chức và cá nhân. Các đối tượng xấu cũng lợi dụng những yếu kém trong công tác quản lý, công tác cán bộ, những sai phạm của một số tổ chức, cá nhân để nói xấu, bôi nhọ, vu cáo, bịa đặt đối với Đảng, Nhà nước, gây tác động tiêu cực đến dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

  1. Thực trạng và giải pháp phòng, chống

(…)

Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Làm rõ âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, của các đối tượng xấu trên Internet và mạng xã hội; những vấn đề, sự kiện mà chúng lợi dụng xuyên tạc, mức độ nguy hại, ảnh hưởng của các thông tin xấu, độc. Tổ chức trao đổi và làm rõ về thông tin xấu độc để mọi người nâng cao nhận thức, nhận diện được thông tin xấu, độc, có ý thức tự phòng vệ và ý thức ngăn chặn, phòng chống, đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc.

Hai là, tăng cường quản lý, nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Không để xảy ra hiện tượng cán bộ, đảng viên và quần chúng bị kẻ địch móc nối, lôi kéo. Thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý tài liệu, không để các ấn phẩm văn hóa độc hại, tài liệu phản động lọt vào, trang bị phương pháp tiếp cận thông tin trên mạng xã hội một cách khoa học và đúng đắn.

Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương cần sâu sát, nắm vững mọi hoạt động và tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên, quần chúng, nhất là khi những luồng quan điểm thù địch, chống đối “mới” xuất hiện, những biểu hiện lệch chuẩn trong nhận thức chính trị; đồng thời thường xuyên tìm hiểu, nắm bắt tình hình hoạt động của các đối tượng xấu, có nội dung giáo dục, định hướng, điều chỉnh nhận thức đúng đắn, kịp thời. Các cơ quan quản lý phải có trách nhiệm trong quản lý thông tin có liên quan tới cán bộ, đảng viên, quần chúng nơi mình quản lý trên mạng xã hội. Yêu cầu cá nhân thuộc cơ quan, đơn vị mình quản lý lên tiếng khi tài khoản cá nhân (Facebook, Zalo…) bị hack hoặc bị giả mạo, để tránh bị lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, bôi nhọ, vu khống, hoặc bị lợi dụng phát tán thông tin xấu, độc cho người thân, bạn bè và cộng đồng mạng.

Ba là, quản lý chặt chẽ thông tin trên Internet và mạng xã hội trên cơ sở luật pháp và các điều ước quốc tế. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về sử dụng Internet và mạng xã hội, đảm bảo môi trường pháp lý bình đẳng và minh bạch, tạo ra khung pháp lý nhằm răn đe, xử lý cá nhân, tổ chức đưa tin xấu độc trên Internet và mạng xã hội. Hình thành các cơ quan kiểm soát và chống tin giả trên mạng và hợp tác với các nước có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Bốn là, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận diện, tự phòng chống các thủ đoạn, nội dung thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính thống một cách đầy đủ, toàn diện. Đồng thời, chỉ rõ những thủ đoạn, tính chất nguy hại của thông tin xấu độc đối với xã hội; trang bị kiến thức cần thiết để mỗi người có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời “miễn dịch” với những thông tin xấu, độc làm nhiễu loạn môi trường xã hội.

Năm là, chủ động ngăn ngừa, giảm thiểu tiếp xúc của cán bộ, đảng viên và nhân dân với các nguồn thông tin xấu, độc, đồng thời tích cực đấu tranh với những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch.

Việc ngăn ngừa, giảm thiểu sự tiếp xúc đối với những thông tin xấu, độc là hết sức cần thiết, nhất là đối với những người trẻ tuổi, bản lĩnh chính trị còn chưa vững vàng, khả năng miễn dịch còn thấp. Để thực hiện điều này, mọi người không nên nghe, đọc, xem những đài, báo, trang mạng, bài viết, blogs, video của những phần tử chống đối, phản động.

Như vậy, tham gia mạng xã hội là nhu cầu thiết yếu của đời sống trong thời đại Cách mạng Công nghiệp 4.0. Tuy nhiên, các đối tượng xấu đang triệt để lợi dụng để đưa những thông tin xấu, độc, nhằm tạo ra những suy nghĩ lệch lạc, mơ hồ, dao động, mất niềm tin trong nhân dân để chống phá Đảng, Nhà nước. Do vậy, việc nhận diện và đấu tranh phòng chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội không chỉ là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, của các cơ quan chức năng mà là việc làm cần thiết đối với mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội./.

(1) Cảnh giác trước thông tin xấu, độc trên mạng Internet, http://anninhthudo.vn

(2) Lừa tiền trên mạng xã hội, vì sao nhiều người mắc bẫy?, http://antg.cand.com.vn.

(3) Tổng thống Pháp tuyên chiến với thông tin giả mạo trên Internet, http://tuoitre.vn.

(4) Các số liệu thống kê về Internet ở Việt Nam năm 2017, http://www.dammio.com.

(5) Gần 36 triệu người Việt dùng di động truy cập mạng xã hội hàng ngày, http://viettimes.vn.

(6) Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.

Trích đăng từ bài viết “Phòng, chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội” đăng trên tập chí Lý luận chính trị số 1 - 2018.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

Bên cạnh những chuyển biến tích cực trong công tác cán bộ: cơ bản bảo đảm nguyên tắc, quy trình, thủ tục trong tất cả các khâu, xây dựng được đội ngũ cán bộ tương xứng, ngang tầm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn, thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ “Việc đổi mới công tác cán bộ chưa có đột phá lớn. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất qua nhiều nhiệm kỳ nhưng vẫn chưa có tiêu chí cụ thể và giải pháp khoa học để khắc phục. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”. Kiểm soát quyền lực và nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu (NĐĐ) là những biện pháp thiết thực phòng ngừa vi phạm trong bổ nhiệm cán bộ.

Thực tiễn minh chứng những khuyết điểm, vi phạm về bổ nhiệm cán bộ không những gây bức xúc trong nội bộ, để lại hậu quả khó lường mà còn gây dư luận xấu trong xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân. Điển hình, Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) giai đoạn 2009 – 2015 thiếu kiểm tra, giám sát, buông lỏng để các đơn vị thành viên bổ nhiệm 27 trường hợp không có trong quy hoạch, có trường hợp không đủ tiêu chuẩn và chỉ đạo bổ nhiệm tám trường hợp thuộc PVN không có trong quy hoạch. Thậm chí 17 cán bộ, lãnh đạo đơn vị trực thuộc có vi phạm, khuyết điểm để các đơn vị hoạt động không hiệu quả, thua lỗ nhiều năm không bị xem xét, xử lý trách nhiệm mà vẫn được PVN điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, có trường hợp lên chức cao hơn. Hệ lụy là nhiều cán bộ trong đó có cả lãnh đạo chủ chốt của PVN vi phạm nghiêm trọng bị khai trừ Đảng và xử lý hình sự.

Cũng xuất phát từ thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, biểu hiện nể nang, Ban cán sự đảng Bộ Công thương nhiệm kỳ 2011 – 2016 tiếp nhận, điều động, bổ nhiệm Trịnh Xuân Thanh và một số cán bộ vi phạm nguyên tắc, quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn, điều kiện; đánh giá, quy hoạch cán bộ một số trường hợp không đúng nguyên tắc, quy trình; để Bí thư BCSĐ tự ý đề nghị phê duyệt bổ sung quy hoạch chức danh Thứ trưởng Công thương đối với Trịnh Xuân Thanh và một số trường hợp khác; thực hiện không đúng thẩm quyền khi đề nghị Tỉnh ủy Hậu Giang tạo điều kiện cho Trịnh Xuân Thanh tham gia BCH Đảng bộ tỉnh Hậu Giang. Tại Vĩnh Phúc, trong số 15 trường hợp Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2010 – 2015 quyết định bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử không đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định có tới ba trường hợp bổ nhiệm thiếu nhiều tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cục bộ, không bình thường.

Nhiều vi phạm nổi cộm được Ủy ban Kiểm tra Trung ương chỉ rõ cũng cho thấy sự thiếu gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Với cương vị Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2010 – 2015, ông Ngô Văn Tuấn đã ưu ái, nâng đở không trong sáng đối với bà Trần Vũ Quỳnh Anh trong việc ra các quyết định về công tác cán bộ vi phạm các quy định của Đảng và Nhà nước như tiếp nhận, điều động bà Trần Trần Vũ Quỳnh Anh từ nhân viên hợp đồng ở đơn vị sự nghiệp về làm công chức chuyên môn; trong một thời gian rất ngắn bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng, Trưởng phòng, đề nghị quy hoạch chức danh Phó Giám đốc Sở. Vi phạm có hệ thống của ông Tuấn còn thể hiện qua việc ký quyết định trái thẩm quyền về tiêu chuẩn bổ nhiệm cán bộ, bổ nhiệm 29 trưởng, phó phòng chưa có trình độ trung cấp lý luận chính trị và 12 trong số 29 trường hợp chưa qua lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước; ký bổ nhiệm lần đầu đối với 55 trường hợp trưởng, phó phòng không có trong quy hoạch. Ông Lê Phước Thanh, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam nhiệm kỳ 2010 – 2015 cũng có biểu hiện ưu ái, vun vén cho gia đình trong quy hoạch, luân chuyển, điều động và quyết định bổ nhiệm con trai là Lê Phước Hoài Bảo giữ các chức vụ (Trưởng phòng của Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai, Phó Chủ tịch UBND huyện Thăng Bình, Phó Giám đốc, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư) không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, vi phạm quy trình, thủ tục.

Đó chỉ là dẫn chứng điển hình trong nhiều sai phạm bổ nhiệm cán bộ và nguyên nhân chủ quan chiếm phần lớn. Một số nơi NĐĐ không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, để ban thường vụ phê duyệt quy hoạch và thường trực tỉnh ủy cho chủ trương bổ nhiệm cán bộ không đúng thẩm quyền dẫn đến lạm quyền, lộng quyền hoặc lợi dụng nguyên tắc này để áp đặt, thực hiện ý đồ cá nhân, ưu ái, nâng đở không trong sáng đối với một số trường hợp người thân, phe cách hoặc “mở đường” cho việc chạy chức, chạy quyền. Một số nơi, đơn vị tham mưu, giúp việc còn thực hiện chưa đúng chức năng, nhiệm vụ về công tác cán bộ cho cấp ủy, trong đó bổ nhiệm cán bộ chưa đúng quy định. Các tổ chức đảng chưa thực hiện nghiêm túc, hiệu quả quy chế về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ của Bộ Chính trị khóa X để cấp dưới sai phạm trong bổ nhiệm một số cán bộ.

Để ngăn ngừa, khắc phục những khuyết điểm, vi phạm trong bổ nhiệm cán bộ trước hết đòi hỏi phải có cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm chặn đứng hành vi lạm quyền, lộng quyền và lợi dụng quyền lực, nhất là của một số NĐĐ và cán bộ tham mưu, giúp việc về công tác tổ chức cán bộ và xử lý nghiêm minh các trường hợp sai phạm, công bố công khai để góp phần cảnh báo, răn đe. Bên cạnh đó, xác định rõ thẩm quyền và chịu trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân trong công tác cán bộ trên cơ sở áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tất cả các khâu, nhất là bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Thực hiện nghiêm chế độ kiểm tra, giám sát cán bộ và công tác cán bộ, coi đây là khâu đột phá, từ đó đánh giá đúng, phát huy những kinh nghiệm tốt, uốn nắn sơ hở, thiếu sót; ngăn chặn và xử lý kịp thời các trường hợp có biểu hiện tha hóa quyền lực, lệch lạc, khuyết điểm trong bổ nhiệm cán bộ.

Đồng thời, việc sửa đổi, bổ sung quy chế kiểm tra, giám sát công tác cán bộ của Bộ Chính trị khóa X cho sát hợp các quy định, quy trình về công tác cán bộ đã sửa đổi vừa qua và phù hợp thực tiễn gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn ở Trung ương và địa phương rà soát, sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc, quy định về công tác bổ nhiệm cán bộ cấp mình quản lý một cách đầy đủ, chặt chẽ, phù hợp; quy định rõ NĐĐ và người phụ trách công tác cán bộ khi chuyển công tác, trước khi nghỉ hưu phải báo cáo công việc liên quan đến tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ và có rà soát, kiểm tra, xem xét trách nhiệm nếu mắc sai lầm là những giải pháp thiết thực cần sớm thực thi. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, mở rộng việc thi tuyển và đối tượng thi tuyển cán bộ lãnh đạo quản lý gắn với coi trọng tiến cử và chịu trách nhiệm về người mình tiến cử…, bố trí ít nhất hai ứng viên cho một chức danh khi xem xét bỏ phiếu tín nhiệm bổ nhiệm cán bộ là hướng mở khả quan để lựa chọn được cán bộ lãnh đạo hội tụ đủ đức – tài.

Trích đăng từ bài viết “Xử lý vi phạm trong bổ nhiệm cán bộ: Kiểm soát quyền lực, nêu cao trách nhiệm người đứng đầu” trong Báo Nhân dân (trang 8), số 249 tháng 01/2018 của đồng chí Cao Văn Thống - Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

Sáng 31/7/2017, tại Hà Nội, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng tổ chức phiên họp thứ 12 dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo. Đánh giá về công tác phòng chống tham nhũng thời gian qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian qua đã thành phong trào, thành một xu thế của cả xã hội. Khi tiếp xúc cử tri, Tổng Bí thư đã nói: “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy. Củi khô, củi vừa vừa cháy trước, rồi cả lò nóng lên, tất cả các cơ quan vào cuộc, có ai đứng ngoài đâu. Và không thể đứng ngoài được. Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được, thế mới là thành công”.

Theo Tổng Bí thư, chống tham nhũng rõ đến đâu làm đến đấy, làm từng việc, hết việc này dẫn sang việc khác, làm việc trước tạo tiền đề cho việc sau, làm theo chương trình, kế hoạch, có bài bản, có phân công, có sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, có gì vướng mắc thì kịp thời họp tháo gỡ. Và một điều quan trọng nữa là huy động sức mạnh toàn dân của cả hệ thống chính trị, nhân dân đồng tình, báo chí vào cuộc, công khai như vừa qua là rất có tác dụng, trở thành phong trào, thành xu thế của xã hội.

Tổng Bí thư dẫn câu nói của Lênin: “Tính công khai là thanh bảo kiếm chữa lành những vết thương”. Tuy nhiên, Tổng Bí thư cũng chỉ đạo, báo chí cần thông tin đúng, góp phần thúc đẩy công tác phòng, chống tham nhũng đồng thời đấu tranh phản bác những thông tin sai lệch, xuyên tạc, không xây dựng. Tổng Bí thư chỉ rõ, sắp tới, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng phải tiếp tục được tăng cường, quyết liệt hơn, hiệu quả cao hơn, không có trở ngại nào, sức ép nào.

Có thể nói, chưa bao giờ công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng lại quyết liệt, mạnh mẽ, hiệu quả như hiện nay. Có được điều này chính là bởi sự chuẩn bị kỹ càng, có bài bản, có chiến lược, chiến thuật rất cụ thể. Những thành quả trong công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta vừa qua rõ rãng là những tín hiệu vui, nó cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng đang thật sự được thực hiện một cách quyết tâm và quyết liệt. Vì thế mà niềm tin của nhân dân, của cả xã hội về một tương lai đất nước trong sạch, vững mạnh đang trở nên mạnh mẽ hơn.

 

ĐẢNG KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH

CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ

Hơn 70 năm lãnh đạo xây dựng nhà nước mới, 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước cách mạng, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Nghị quyết hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã cụ thể hóa quyết tâm chính trị của Đảng, đấu tranh quyết liệt chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, quyết tâm xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, khắc phục nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ. Quan điểm chỉ đạo của Đảng là “xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai những người tham nhũng, bất kể ở chức vụ nào, đương chức hay đã về hưu”. Ban chỉ đạo Trung ương về chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu đã quyết liệt chỉ đạo, điều tra hàng loạt vụ án lớn. Hơn mười dự án thất thoát “nghìn tỷ” từng bước bị điều tra và đưa ra pháp luật, nhiều cán bộ cấp cao bị cách chức. Cuộc chiến chống tham nhũng đã có những bước tiến mới, như “lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy”.

Cùng với tham nhũng, lãng phí hiện nay đã trở thành quốc nạn. Báo cáo của Quốc hội tại hội nghị toàn quốc về chống tham nhũng, lãng phí cho biết, tiền quà biếu của 663 đơn vị lên tới 4.000 nghìn tỷ đồng; xe công thừa hàng trăm chiếc, chưa kể nhiều cán bộ sử dụng xe vượt tiêu chuẩn… Nghiêm trọng hơn cả là lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản. Báo cáo của Chính phủ nêu rõ, có tới hàng nghìn dự án huy động hàng chục nghìn hecta đất nhưng chỉ có khoảng 1/3 số đất đó được sử dụng. Đất đai thu hồi không sử dụng, lãng phí tài nguyên, tốn kém công của gây ra tác động tiêu cực xã hội rất lớn. Trên diễn đàn Quốc hội, nhiều ý kiến nêu rõ, đầu tư dàn trải gây ra lãng phí lớn. Hàng nghìn tỷ đồng quà biếu, hàng chục ngàn hecta đất, hàng trăm triệu USD từ các dự án treo, chậm tiến độ tuy chưa phản ánh đầy đủ thực trạng lãng phí hiện nay ở nước ta, nhưng đã cho thấy tính chất cực kỳ nghiêm trọng về sự lợi dụng chức vụ của một số cán bộ, công chức gây ra những thất thoát lớn về của cải Nhà nước và Nhân dân.

Những lãng phí ấy không có cơ quan, đơn vị hay cá nhân nào chịu trách nhiệm. Người ta đổ lỗi cho cơ chế, biện bạch về sự bất cập, không đồng bộ hoặc yếu kém của bộ máy hay do mặt trái của kinh tế thị trường. Thực tế cho thấy lãng phí chủ yếu xảy ra ở các các quan, đơn vị của hệ thống chính trị và thành phần kinh tế nhà nước, nguyên nhân là một số cán bộ, công chức lợi dụng chức quyền, lạm quyền và lộng quyền gây ra. Mặc dù Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, nhà nước có luật pháp về tiết kiệm, chống lãng phí nhưng việc thực thi không thu được kết quả bao nhiêu, tệ lãng phí với tham nhũng ngày càng phát triển, gây hậu quả xấu nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân và là nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Do đó, chống tham nhũng, lãng phí, thiết nghĩ phải làm từ cán bộ, công chức, đảng viên, những người có chức, có quyền trong hệ thống chính trị. Các giải pháp về cơ chế, chính sách phải đồng bộ, khả thi gắn liền với việc tuyên truyền, giáo dục và thực thi pháp luật nghiêm minh.

Vấn đề có ý nghĩa đối với chống tham nhũng, lãng phí hiện nay là thực hiện ráo riết Quy chế dân chủ ở cơ sở theo hướng công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, nhất là những công việc dễ nảy sinh tiêu cực, lãng phí. Nêu cao trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy trong việc phát huy vai trò tổ chức Đảng, đảng viên thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, đơn vị mình, góp phần hạn chế, giảm sự lộng quyền ở một số người lợi dụng quyền hành để lãng phí, tiêu cực. Củng cố, kiện toàn tổ chức thanh tra nhân dân, tăng cường công tác kiểm tra sinh hoạt Đảng của cấp trên đối với tổ chức cơ sở Đảng. Nêu gương tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên dũng cảm và đấu tranh chống lãng phí. Trong xây dựng và thực hiện quy tắc ứng xử nhằm đảm bảo sự liêm chính của đảng viên, cán bộ, công chức cần chú ý nội dung về quyền và nghĩa vụ đối với từng loại chức danh để phòng chống lợi dụng chức vụ, quyền lực dẫn đến lạm quyền, lộng quyền. Việc lợi dụng quyền lực dẫn đến lãng phí cần được xác định đúng tội danh; người, tổ chức gây ra lãng phí phải bị xử lý nghiêm minh đồng thời công khai việc xử lý để mọi tầng lớp Nhân dân biết, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước…

Trích đăng từ bài viết “Đấu tranh chống tham nhũng - vấn đề sống còn của Đảng” trong Tạp chí Nhân quyền Việt Nam, số 9/2017.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

“Liêm” tức là trong sạch, “chính” nghĩa là thẳng thắn. Việc xây dựng một chính phủ liêm chính chính là xây dựng một bộ máy hành pháp trong sạch, minh bạch, công khai. Biểu hiện của nó là không tham nhũng, không quan liêu, tham quyền, cố vị, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xây dựng chính quyền gần dân trên cơ sở cải cách thủ tục hành chính công và thái độ phục vụ Nhân dân của bộ máy công bộc…

Sau 30 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta bắt đầu bộc lộ nhiều điểm yếu và trở thành những rào cản ngáng trở sự phát triển. Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này là sự chậm chạp trong quá trình hoàn thiện thể chế hướng tới mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi hơn cho môi trường đầu tư của mọi thành phần trong xã hội. Sự chậm trễ đó cơ bản là do hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường chưa hoàn chỉnh, bộ máy tổ chức hành chính còn chưa thoát ra khỏi tư duy “quản lý, kiểm soát” thay vì phải là tư duy “quản trị, kiến tạo” sự phát triển. Với một bộ máy quản lý chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, không minh bạch về giới hạn và một thể chế hành chính cồng kềnh, quan liêu tạo tiền đề cho nhiều người lợi dụng chức quyền và trốn tránh trách nhiệm dễ dàng trong công vụ là sức cản rất lớn ảnh hưởng không tốt đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động khiến một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức suy thoái, biến chất về đạo đức. Những vụ án tham nhũng, vụ sau lớn hơn vụ trước, báo chí phanh phui trong thời gian gần đây là thách thức to lớn đối với quyết tâm xây dựng chính phủ liêm chính. Trong khi đó, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận lớn cán bộ, công chức không xứng tầm nhiệm vụ. Nhiều việc, nhất là những việc liên quan đến thủ tục hành chính và quyền lợi của người dân giải quyết chậm; khả năng xử lý xung đột, trình độ giao tiếp, nhất là giao tiếp quốc tế kém; trình độ tiếp thu công nghệ mới và vận dụng vào thực tế rất yếu, bằng cấp nhiều mà ít sáng tạo, ít phát minh…

Bản chất của Nhà nước ta, ngay từ những ngày đầu tiên đã được khẳng định là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhiệm kỳ 2016 - 2021, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc luôn nhấn mạnh xây dựng chính phủ liêm chính, kiến tạo, kiên quyết chống tham nhũng, hướng về Nhân dân, tạo điều kiện cho Nhân dân làm giàu và mưu cầu hạnh phúc, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết. Muốn đạt được mục tiêu này, trước hết Chính phủ cần cải cách chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức. Cần thay đổi tận gốc cơ chế tuyển chọn cán bộ để có một đội ngũ cán bộ có năng lực thực sự, đề cao vai trò giám sát của xã hội để làm tốt công tác này. Những chuyện xảy ra vừa qua như ô nhiễm môi trường biển, hiệu quả đầu tư kém… có nguyên nhân rất lớn từ năng lực yếu kém của đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện việc đánh giá cán bộ nghiêm túc, công bằng để loại những ai không liêm chính ra khỏi bộ máy, để cán bộ có năng lực yên tâm làm việc, không bị trù dập. 

Yêu cầu đặt ra trong thời gian này là quyết liệt thực hiện cải cách hành chính, cải cách xuất phát từ dân và vì dân. Từ thực tiễn đó xây dựng các chương trình hoạt động công vụ gắn với mục tiêu bảo đảm tinh thần làm việc văn minh, dân chủ và cởi mở, thượng tôn pháp luật, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Chuyển dần từ nền hành chính cai trị sang quản trị, kiến tạo. Rà soát, sắp xếp lại quy trình, thủ tục hành chính giữa trung ương và địa phương, giữa các bộ, ngành mang tính đồng bộ, đồng thời nâng cao năng lực, trình độ nhận thức, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng môi trường dịch vụ hành chính công mang tính phục vụ thông qua đơn giản hóa và công khai thủ tục hành chính, loại bỏ những thủ tục không cần thiết, xử lý nghiêm những cán bộ thoái hóa biến chất, gây sách nhiễu cho người dân. Chính phủ điều phối hoạt động công vụ thông qua công tác xây dựng thể chế, chính sách, tạo môi trường cho đầu tư kinh doanh phát triển, tạo công ăn việc làm, phát huy sức sáng tạo, tăng thu nhập cho người dân, tăng năng suất lao động, bảo vệ môi trường, tạo công bằng xã hội. Cùng với việc thiết kế thể chế, chính sách, Chính phủ hành động nhanh, chính xác, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Việc bảo đảm và tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý hành chính hết sức quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phòng, ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, lãng phí. Chính phủ điện tử đã công khai và minh bạch toàn diện hoạt động công vụ của mình song người dân chưa có đủ điều kiện tiếp cận do khó truy cập, thông tin chưa bắt kịp tính thời sự của đời sống. Vấn đề cấp thiết hiện nay là xác định rõ danh mục bí mật của các bộ, ngành, địa phương, trên cơ sở đó hạn chế tình trạng phổ biến hiện nay là cán bộ, ngành, địa phương thường lấy lý do thuộc danh mục bí mật Nhà nước để từ chối cung cấp thông tin cho người dân…

Đất nước đang đứng trước những thách thức to lớn khi hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới. Việc quyết tâm xây dựng một chính phủ liêm chính, nói không với tham nhũng là một quan điểm hết sức đúng đắn để củng cố niềm tin của Nhân dân. Tăng trưởng kinh tế đã khó nhưng tăng trưởng niềm tin của Nhân dân còn khó hơn. Thước đo sự liêm chính của Chính phủ chính là hiệu quả phục vụ Nhân dân, là lòng tin của Nhân dân! Nếu đội ngũ công chức hiện nay thực hiện đúng như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sẽ xây dựng được Chính phủ liêm chính, vì thế sẽ có được lòng dân, đem được lợi ích thiết thực cho Nhân dân.

Nguyễn Hồng Liên

Trích đăng từ bài viết “Kế thừa tư tưởng Chính phủ liêm chính của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Liêm chính để được lòng dân” trong Tạp chí Nhân quyền Việt Nam, số 9/2017.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

Tóm tắt: Theo Hồ Chí Minh, chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng được xem là công việc thường xuyên, thiết thực làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh và liên quan trực tiếp tới vận mệnh của Đảng, quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Tuy nhiên, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thì ở nơi này, nơi khác, ở mức độ này, hay mức độ khác vẫn còn tồn tại, thậm chí có chiều hướng phát triển. Do vậy, phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của toàn Đảng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm giáo dục tinh thần đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người đã sớm cảnh báo về tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và với mỗi cán bộ, đảng viên. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân và coi chủ nghĩa cá nhân như “một thứ vi trùng rất độc”, nó sinh ra các khuyết điểm nghiêm trọng như bệnh tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, ham địa vị, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh. Trong bài “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Người chỉ rõ: “Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”. Sự phê phán đó của Người cho tới ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị, mang tính thời sự cao và có ý nghĩa giáo dục đạo đức, lối sống sâu sắc cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta, đặc biệt trong thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: Chủ nghĩa cá nhân nó nằm ngay trong lòng mỗi con người “ai cũng có một ít”, là kẻ thù bên trong, là giặc “nội xâm”; là kẻ thù “vô hình” nhưng lại biểu hiện trong tư tưởng, hành động của mỗi người. Có lúc Người cho đó là “địch nhân” ở trong lòng mà mỗi người phải chiến thắng “nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển”. Cho nên, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là cuộc đấu tranh nội tại giữa cái “thiện” và cái “ác”; giữa cái “đúng” và cái “sai”; giữa cái “tiến bộ” và cái “thoái bộ”. Người viết: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”, “làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác”. Nên khi cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đồng nghĩa với việc họ làm biến chất, suy thoái Đảng. Do đó, thực hiện những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, chính là giữ vững bản chất, sinh mệnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính. Rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cách mạng song hành với cuộc đấu tranh phòng, chống, tiến tới loại bỏ chủ nghĩa cá nhân bên trong mỗi người cán bộ, đảng viên. Đó là cuộc đấu tranh quyết liệt, phức tạp, gian khổ, lâu dài bằng nhiều hình thức phong phú gắn với những điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Hồ Chí Minh đã ví một cách hình ảnh “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng tốt lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”. Vì vậy chủ nghĩa cá nhân dù tồn tại dưới hình thức nào cũng đều phải quét sạch nhằm nâng cáo uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng có ý nghĩa vô cùng to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, bên cạnh những thuận lợi, đang chịu sự chi phối từ những mặt trái của cơ chế thị trường, những tiêu cực nảy sinh trong quá trình hội nhập, toàn cầu hóa là điều kiện, là “mảnh đất màu mỡ” cho chủ nghĩa cá nhân nảy nở, phát triển với những biểu hiện phức tạp, tinh vi. Trên thực tế, đa số cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước luôn luôn có phẩm chất chính trị tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức lối sống cách mạng trong sáng, lành mạnh, nhưng vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên mang nặng chủ nghĩa cá nhân. Chính vì vậy, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân hiện nay có vị trí đặc biệt quan trọng trong xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, quần chúng Nhân dân đáp ứng với yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng.

Để đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân hiện nay mang lại hiệu quả cao phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới, phải nghiên cứu những quan điểm, tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân, đi từ thực trạng đội ngũ cán bộ, đảng viên và phải coi đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị. Theo chúng tôi cần phải thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, kiên trì và đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên trong phòng, chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi trong bất kỳ giai đoạn nào, không được xem nhẹ công tác giáo dục trong Đảng về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt là giáo dục về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên, củng cố lập trường giai cấp công nhân. Nguyên nhân sâu xa của chủ nghĩa cá nhân là do quan điểm, lập trường giai cấp công nhân bị mờ nhạt. Vấn đề đạo đức, lối sống phải được xem xét trên lập trường của giai cấp công nhân. Trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần phân tích, làm rõ tác hại của chủ nghĩa cá nhân đối với công việc, với dân, với nước. Nhằm xây dựng Đảng thực sự là Đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong Đảng và Nhân dân, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã xác định.

Hai là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, chủ trì, đứng đầu các cơ quan Đảng, Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh gắn liền với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, luôn nêu cao tinh thần tiền phong, gương mẫu trong mọi lúc, mọi nơi để lôi cuốn được quần chúng học tập, noi theo nhằm bảo đảm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có khả năng đề kháng tốt với chủ nghĩa cá nhân. Khi mà nội bộ Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh thì không còn chỗ cho chủ nghĩa cá nhân phát bệnh.

Ba là, củng cố chăm lo xây dựng các tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh, đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngăn chặn đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp nhằm kiên quyết loại bỏ những con “sâu mọt” ra khỏi bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, làm trong sạch các tổ chức đảng, bộ máy chính quyền, tạo ra môi trường lành mạnh không để cho những cán bộ, đảng viên mắc bệnh chủ nghĩa cá nhân có điều kiện phát tác.

 Bốn là, Đảng phải quan tâm, chăm lo lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân, của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tăng cường niêm tin của đội ngũ cán bộ, đảng viên vào sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng theo con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Bởi đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện sẽ góp phần cổ vũ, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ, đảng viên yên tâm phấn khởi, gắn bó với tập thể, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng chiến đấu đến cùng vì mục tiêu lý tưởng của Đảng, qua đó phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên được ngăn chặn ngay từ mầm mống.

Năm là, phát huy, mở rộng dân chủ trong Đảng, trong toàn xã hội để đoàn kết, động viên và phát huy hết tiềm năng trí tuệ, sự ủng hộ cả về tinh thần và vật chất của các tầng lớp Nhân dân vì sự nghiệp cách mạng. Muốn vậy, Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ, bảo đảm lợi ích của Nhân dân, vai trò giám sát của Nhân dân với hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên.

Đồng thời, coi trọng xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức. Xây dựng quy chế kiểm tra, giám sát có hiệu quả; phương pháp kiểm tra phải đồng bộ từ trên xuống và từ dưới lên nhằm mục đích phát hiện những sai lầm trong tư tưởng và hành động để kịp thời sửa chữa. Hồ Chí Minh nói: “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”. Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp mắc chủ nghĩa cá nhân luôn chỉ lo chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương... Thực hiện tốt công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả trong các hoạt động lãnh đạo, quản lý của mỗi tổ chức, cá nhân.

Đấu tranh phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả trong toàn Đảng nói chung và đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng hiện nay là một tất yếu, nó diễn ra hết sức gay go, phức tạp, quyết liệt, đòi hỏi cán bộ, đảng viên trong Đảng phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân; nắm chắc tình hình và biểu hiện đa dạng của chủ nghĩa cá nhân và thực hiện chế độ đồng bộ các biện pháp đấu tranh, khắc phục ảnh hưởng của chủ nghĩa cá nhân gắn với thực hiện thắng lợi mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.

      Thạc sĩ Nguyễn Trọng Tiến

Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng

Trích đăng từ Tạp chí Giáo dục lý luận số 263, phát hành tháng 7 năm 2017.

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

Sự tha hóa, suy thoái từ trong nội bộ, từ những cán bộ, công chức là yếu tố nguy hiểm, khó lường, nó thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, nhiệm vụ bức thiết hiện nay là ngăn chặn và đẩy lùi suy thoái, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ bằng một hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó, cần chú trọng áp dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của cán bộ, đảng viên và đề cao trách nhiệm người đứng đầu.

1. Hiện nay, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không còn là nguy cơ mà là thực tế đáng lo ngại đã được Đảng ta nhận diện và coi là một thách thức lớn trong quá trình phát triển đất nước. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Hội nghị Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống và những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ Đảng ta thời gian qua.

Hệ thống các biểu hiện được nêu trong Nghị quyết số 04-NQ/TW là những căn cứ quan trọng của từng cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên nhận diện một cách nghiêm túc với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”. Cùng với đó, Trung ương cũng xác định 4 nhóm giải pháp hết sức toàn diện, bảo đảm tính thống nhất, khoa học và có mối quan hệ biện chứng trong triển khai thực hiện. Mỗi cán bộ, đảng viên, từng chi bộ, từng địa phương, cơ quan, đơn vị tự soi mình trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tự xem xét, đánh giá, thấy được “một bộ phận không nhỏ” rơi vào các biểu hiện đó là có thật; từ đó, quyết tâm thực hiện bằng 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp Trung ương đã đề ra.

Về bản chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một quá trình suy thoái từ bên trong dưới sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường cùng với các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Thêm vào đó là sự suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống của một số cán bộ, đảng viên, xa rời lý tưởng, sa vào lối sống thực dụng, sùng bái lợi ích vật chất, quyền lực và lợi ích nhóm. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên có thể diễn ra với các mức độ và biểu hiện cụ thể khác nhau.

Thực tế cho thấy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm cho bản thân đảng viên, cán bộ, công chức, nhất là người có chức quyền không còn giữ được lý tưởng bản chất cách mạng, phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp. Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong cấp ủy cơ quan, đơn vị có biểu hiện tha hóa, lười nhác, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trốn tránh trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm cho cấp dưới, công thì nhận nhưng khi sai phạm thì lại không dám chịu trách nhiệm. Có những trường hợp cán bộ, đảng viên nhiều năm liền là “Chiến sĩ thi đua”, nhưng thực sự lại không có được những đóng góp hữu ích gì cho tập thể; hay có những cán bộ, đảng viên có thái độ và biểu hiện lười nhác, đi muộn về sớm, đến cơ quan chỉ để lợi dụng cơ sở vật chất của cơ quan để mưu cầu cho cá nhân như sử dụng điện thoại, phương tiện của cơ quan để làm việc cá nhân. Với “kiểu” cán bộ lãnh đạo, đảng viên như vậy sẽ làm cho cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị nảy sinh tâm lý chán nản, không còn tâm huyết với công việc, làm việc theo kiểu đối phó với lãnh đạo… Tình trạng này nếu không chấn chỉnh kịp thời sẽ dẫn đến hệ lụy nghiêm trọng như làm mất uy tín, danh dự và làm giảm niềm tin của Nhân dân… Thực tế hiện nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn chưa nhận thức sâu sắc về “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” và mức độ nguy hiểm của nó đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nhiệm vụ cấp bách đặt ra là nhận thức sâu sắc về những thách thức, nhận diện đúng những biểu hiện để đề ra các giải pháp phù hợp đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đồng thời, kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ Nhân dân.

Để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả và thực chất, trước tiên đòi hỏi cần “tăng cường trách nhiệm của cấp ủy”, nhất là cấp ủy cơ sở, xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả. Trong đó, áp dụng pháp luật, thực hiện nghiêm quy định pháp luật để điều chỉnh hành vi của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu là một giải pháp quan trọng.

2. Liên quan đến vấn đề đấu tranh với thực trạng suy thoái, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong nhiều văn bản pháp luật đã quy định rõ về quyền, nghĩa vụ và đạo đức của cán bộ, công chức; đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu, mà tập trung và trực tiếp nhất là Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luât Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.

Thứ nhất, cần thực hiện tốt các quy định pháp luật về khen thưởng cán bộ, công chức tuân thủ đạo đức nghề nghiệp; kỷ luật, truy cứu trách nhiệm và buộc bồi thường thiệt hại đối với cán bộ, công chức vi phạm pháp luật, đạo đức nghề nghiệp.

Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cán bộ, công chức có thành tích trong công vụ thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng. Cán bộ, công chức được khen thưởng do có thành tích xuất sắc hoặc công trạng thì được nâng lương trước thời hạn, được ưu tiên khi xem xét bổ nhiệm chức vụ cao hơn nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu. Theo Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005, cơ quan, tổ chức cá nhân có sáng kiến, thành tích trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phát hiện, ngăn chặn hành vi gây lãng phí ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên thì được khen thưởng.

Việc kỷ luật, truy cứu trách nhiệm và buộc bồi thường thiệt hại đối với cán bộ, công chức vi phạm pháp luật, đạo đức nghề nghiệp theo quy định tại Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật: khiển trách; cảnh cáo; cách chức; bãi nhiệm. Cán bộ phạm tội bị tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm; trường hợp bị tòa án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị thôi việc. Công chức vi phạm quy định pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật: khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; giáng chức; cách chức; buộc thôi việc. Công chức bị tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; công chức lãnh đạo, quản lý phạm tội bị tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ, công chức có thể ra quyết định tạm đình chỉ công tác trong thời gian xem xét, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức nếu để cán bộ, công chức đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Thời hạn tạm đình chỉ công tác không quá 15 ngày, trường hợp cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 15 ngày; nếu cán bộ, công chức bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử thì thời gian tạm giữ, tạm giam được tính là thời gian nghỉ việc có lý do; hết thời hạn tạm đình chỉ công tác nếu cán bộ, công chức không bị xử lý kỷ luật thì được tiếp tục bố trí làm việc ở vị trí cũ. Cán bộ, công chức bị khiển trách hoặc cảnh cáo thì thời gian nâng lương bị kéo dài 6 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; nếu bị giáng chức, cách chức thì thời gian nâng lương bị kéo dài 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực. Cán bộ, công chức bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức thì không thực hiện việc nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm trong thời gian 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; hết thời hạn này, nếu cán bộ, công chức không vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì tiếp tục thực hiện nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm theo quy định của pháp luật. Cán bộ, công chức đang trong thời gian bị xem xét kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì không được ứng cử, đề cử, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng, thi nâng ngạch, giải quyết nghỉ hưu hoặc thôi việc. Cán bộ, công chức bị kỷ luật cách chức do tham nhũng thì không được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý.

Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, năm 2012), người có hành vi tham nhũng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự; trong trường hợp bị kết án về hành vi tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải bị buộc thôi việc; đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Theo Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này gây lãng phí thì phải bồi thường một phần hoặc toàn bộ theo quy định của pháp luật. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí bị xử phạt vi phạm hành chính theo các hình thức sau đây: cảnh cáo; phạt tiền tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung bao gồm tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm. Ngoài các hình thức xử phạt quy định, tổ chức, cá nhân vi phạm còn phải khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Thứ hai, thực hiện nghiêm những quy định về chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý.

Một là, trách nhiệm tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức khi có căn cứ cho rằng cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị theo thẩm quyền hoặc theo đề nghị của người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức để xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng nếu xét thấy người đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức khi nhận được yêu cầu của cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, cơ quan điều tra và viện kiểm sát nếu trong quá trình thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát phát hiện có căn cứ cho rằng, người đó có hành vi tham nhũng để xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng. Hủy bỏ quyết định và thông báo công khai với toàn bộ cán bộ, công chức, viên chức về việc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác và khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức, viên chức sau khi cơ quan có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng.

Hai là, trách nhiệm khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Cụ thể, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ. Cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình trực tiếp phụ trách. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do cấp phó của mình trực tiếp phụ trách. Người đứng đầu đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị do mình quản lý.

Đối với người đứng đầu và cá nhân khác có trách nhiệm trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước và để xảy ra hành vi tham nhũng thì được xử lý theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và điều lệ, quy chế của tổ chức đó. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được loại trừ trách nhiệm trong trường hợp họ không thể biết được hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng, ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng.

Ba là, xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách, bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được xem xét miễn hoặc giảm trách nhiệm pháp lý nếu đã thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng; xử lý nghiêm minh, báo cáo kịp thời với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về hành vi tham nhũng.

Kết luận thanh tra, báo cáo kiểm toán, kết luận điều tra vụ việc, vụ án tham nhũng cần phải nêu rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng theo các mức độ: yếu kém về năng lực quản lý, thiếu trách nhiệm trong quản lý; bao che cho người có hành vi tham nhũng. Kết luận, báo cáo phải được gửi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức.

Thứ ba, thực hiện nghiêm các quy định pháp luật khác liên quan đến hành vi của cán bộ, công chức. Cụ thể, cán bộ, công chức có những hành vi vi phạm như cố ý làm lộ bí mật nhà nước, chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước bị phạt đến mười lăm năm tù; vô ý làm lộ bí mật nhà nước, làm mất tài liệu bí mật nhà nước bị phạt đến bảy năm tù; tham ô tài sản bị phạt đến tử hình; nhận hối lộ bị phạt đến tử hình; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản bị phạt đến tù chung thân; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ bị phạt đến mười lăm năm tù; lạm quyền trong khi thi hành công vụ bị phạt đến hai mươi năm tù; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi bị phạt đến tù chung thân; giả mạo trong công tác bị phạt đến hai mươi năm tù; thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng bị phạt đến mười hai năm tù; cố ý làm lộ bí mật công tác, chiếm đoạt, mua bán, hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác bị phạt đến bảy năm tù; vô ý làm lộ bí mật công tác, làm mất tài liệu bí mật công tác bị phạt đến hai năm tù; đưa hối lộ bị phạt đến tù chung thân; làm môi giới hối lộ bị phạt đến hai mươi năm tù; lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi bị phạt đến mười năm tù…

Trong đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa, bên cạnh các giải pháp về chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình, về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, cần chú trọng giải pháp hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người đứng đầu; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm.

Trần Thị Diệu Oanh

Trích đăng từ Tạp chí Cộng sản (chuyên đề cơ sở) phát hành tháng 8 năm 2017.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

 

 

1. Thời gian qua, lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng như Đạihội Đảng XII, Hội nghị Trungương 2, 3, 4, 5 (Khóa XII) của Đảng, các phần tử phản động gia tăng hoạt động chống phá với việc sử dụng hàng trăm trang web, diễn đàn, blog, kênh truyền hình trực tuyến, tổ chức hàng chục chiến dịch, hàng nghìn bài viết, diễn thuyết, thư ngỏ, bản tuyên bố, bài bình luận xuyên tạc, tung tin hỏa mù về cái gọi là “lợi ích nhóm”, đấu đá trong nội bộ Đảng, bôi nhọ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc chế độ Việt Nam là “độc tài”, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã ngấm sâu vào từng đảng viên.

Trong dịp diễn ra bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, các kỳ họp và chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội, số đối tượng thù địch tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc phá hoại bầu cử, đòi thừa nhận vai trò của “xã hội dân sự” trong giám sát và phản biện xã hội. Các trang mạng phản động rêu rao luận điệu cho rằng xu hướng “dân chủ hóa” ở Việt Nam đang ngày phát triển là điều kiện quan trọng để “từng bước đưa hoạt động của Quốc hội ra khỏi sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam”, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội và công an. Chúng phủ nhận Luật Tiếp cận thông tin, Luật Báo chí sửa đổi đã được Quốc hội thông qua; đòi ban hành Luật về Hội và Luật Biểu tình theo các “tiêu chuẩn” phương Tây.

Trong khi toàn dân tộc đang ra sức bảo vệ chủ quyền biển đảo, những chiến sĩ bộ đội đang ngày đêm ở hải đảo xa xôi đối mặt với vô vàn nguy hiểm để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêngcanh giữ biên cương của Tổ quốc; những ngư dân đang trường kỳ bám biển, hy sinh xương máu, mồ hôi của mình để khẳng định chủ quyền biển đảo thì một số đối tượng liên tục đưa ra những bình luận, phát biểu xuyên tạc, làm sai lệch nhận thức và suy giảm niềm tin của Nhân dân vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Bên cạnh đó, một số tổ chức phản động lưu vong tăng cường cấu kết với các trung tâm phá hoại tư tưởng và thế lực thiếu thiện chí bên ngoài đẩy mạnh các chương trình phát thanh, truyền hình trên các trang mạng xã hội; phát triển đội ngũ blogger tuyên truyền quan điểm trái chiều, xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền, vu cáo chính quyền Việt Nam “đàn áp” những người bất đồng chính kiến, hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tôn giáo; đòi chính quyền “trả tự do cho các tù nhân chính trị”. Chúng cũng tăng cường vận động số chính giới cực hữu và tổ chức xã hội dân sự nước ngoài đề cử, trao cái gọi là giải thưởng về dân chủ, nhân quyền cho các đối tượng chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật như Nguyễn Quang A, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Văn Đài… và tung hô các cá nhân này như là “những người tiên phong bảo vệ dân chủ, nhân quyền và công lý tại Việt Nam”.

Từ giữa năm 2016 đến nay, bọn phản động lưu vong, với sự tiếp tay, hậu thuẫn của các thế lực thiếu thiện chí đồng loạt tiến hành các hoạt động tuyên truyền, kích động biểu tình, gây rối liên quan sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung. Lợi dụng vấn đề này, các tổ chức phản động, lưu vong thường xuyên tổ chức biểu tình chống Việt Nam ở bên ngoài; móc nối với các phần tử chống đối trong nước lôi kéo, kích động người dân tụ tập, gây rối trật tự công cộng, tập hợp lực lượng đối trọng với chính quyền. Chúng lập các bộ hồ sơ, kênh truyền thông, sử dụng mạng xã hội làm công cụ tuyên truyền, xuyên tạc tình hình để kích động, tạo nhận thức sai lệch và hiệu ứng tâm lý đám đông cực đoan về việc “chính quyền đồng lõa với công ty Formosa Hà Tĩnh phá hoại môi trường, đàn áp người dân, vi phạm nhân quyền trong xử lý vụ việc”.

Xin hỏi, những tổ chức phản động, khủng bố như “Đảng Việt Tân” đang bị cộng đồng lên án về hành động lừa đảo, trốn thuế, lợi dụng quyên góp tài chính để trục lợi, sao có thể “đấu tranh” vì dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam? Nực cười hay kẻ lừa đảo từng bị FBI điều tra về tội khủng bố như Nguyễn Hữu Chánh lại đứng lên hô hào, kêu gọi đấu tranh chủ quyền tại Biển Đông. Những đối tượng như Đỗ Hoàng Điềm, Hoàng Tứ Duy… không thể có tư cách để phán xét Đảng Cộng sản Việt Nam đang đại diện cho ý chí của cả một dân tộc, vốn đã có hàng ngàn năm lịch sử, với nền văn minh, văn hiến rực rỡ.

2. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện có 4,5 triệu người, sống tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 4/5 sống tại các nước phát triển như Mỹ, Canada, Nhật Bản, các nước Tây Bắc Âu… Đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc với niềm khát khao xây dựng quốc gia, dân tộc mình ngày càng phát triển. Chính bởi vậy, hàng ngày, hàng giờ những con người Việt Nam xa xứ đã và đang đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng cầu nối, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Hàng ngàn doanh nghiệp, cá nhân kiều bào tích cực tham gia đầu tư, kinh doanh ở trong nước, hỗ trợ các tổ chức và doanh nghiệp trong nước tìm kiếm và mở rộng quan hệ đối tác với bên ngoài. Hàng năm có hàng trăm lượt chuyên gia người Việt về nước để hợp tác, hỗ trợ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật ở trong nước. Lượng kiều hối chính thức hàng năm với giá trị hơn 10 tỷ USD đang trở thành một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế đất nước và nâng cao đời sống của người dân. Nhiều người đã thể hiện tấm lòng tương thân, tương ái, sẵn sàng chia sẻ vật chất và tinh thần, giúp đỡ đồng bào trong nước gặp khó khăn qua các hoạt động từ thiện, nhân đạo, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, nạn nhân chất độc da cam/dioxin, ủng hộ quỹ vì người nghèo, giúp xây dựng trường học, trạm xá, cầu đường cho bà con vùng sâu vùng xa…

Ghi nhận, trân trọng những đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho Tổ quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam ban hành nhiều chính sách để bảo vệ quyền lợi cho kiều bào (quốc tịch, miễn thị thực, cư trú, hồi hương, kiều hối, quyền mua và sở hữu nhà ở trong nước, ưu đãi đầu tư, kinh doanh…) và thực hiện hiệu quả, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng chính đáng của kiều bào, góp phần tạo dựng niềm tin, cơ sở cho sự phát triển lớn mạnh của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Tuy nhiên, đi ngược lại chủ trương, chính sách tốt đẹp đó của Đảng, Nhà nước, cũng như nguyện vọng hòa hợp, đoàn kết, phát triển của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, một số đối tượng, tổ chức phản động người Việt lưu vong vẫn ngày đêm nuôi dưỡng, tư tưởng hận thù, cố tình nhìn nhận sai lệch tình hình trong nước, thường xuyên rêu rao luận điệu xuyên tạc, phá hoại tư tưởng và khối đại đoàn kết toàn dân, kích động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Một số kẻ tuy được học hành, đào tạo trong môi trường giáo dục tại các nước phát triển, có học hàm, học vị nhưng lại có những hành động đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, phủ nhận những giá trị lịch sử, văn hóa của chính Tổ quốc mình. Lịch sử đã chứng minh, những kẻ chống lại dân tộc mình chắc chắn sẽ chỉ là những tiếng nói lạc lõng trong bản đồng ca hòa bình được dệt nên bởi những người Việt chân chính, yêu nước không chỉ ở trong nước mà ở khắp nơi trên thế giới. Mỗi người Việt Nam chân chính, mỗi người Việt Nam yêu nước ở trong và ngoài nước đều ý thức sâu sắc về truyền thống lịch sử, văn hóa, cội nguồn dân tộc; coi sự đoàn kết, gắn bó chính là động lực, sức mạnh để dân tộc ta vươn lên tầm cao mới. Những người lầm đường lạc lối hãy gác lại quá khứ, bỏ qua hận thù, vị kỷ cùng hướng về cội nguồn để xây dựng dân tộc Việt Nam ngày càng phát triển, sánh ngang với các cường quốc. Dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam từ ngàn đời nay luôn luôn khoan dung, nhân ái, sẵn sàng thứ tha, dang tay đón nhận và yêu thương những người con biết ăn năn, hối lỗi, biết “quay đầu lại là bờ!”.

                                                                     PGS.TS Lê Mạnh Cường

Nguồn: Tạp chí Nhân quyền số 5 năm 2017.

Ngày 29-4-2017, ông Nguyễn Thanh Tú - con trai của nhà báo Đạm Phong (người bị giết hại dã man tại Mỹ năm 1982), đã tổ chức họp báo ở thành phố San Jose, California (Xan Giô-sê, Ca-li-pho-ni-a), cung cấp một số tài liệu liên quan đến tổ chức khủng bố Việt tân như: giết người; lập nhiều tổ chức “ma” và quyên góp dưới danh nghĩa “ủng hộ quốc nội” để lừa gạt, trục lợi; thao túng chương trình tiếng Việt của RFA cùng một số cơ sở báo chí của người gốc Việt ở nước ngoài… Lược ghi từ video clip (đoạn phim) về cuộc họp báo được công bố trên YouTube sẽ giúp bạn đọc có thêm tư liệu nhận rõ bản chất xấu xa, âm mưu đen tối, thủ đoạn tàn bạo của một tổ chức khủng bố đã và đang tiến hành nhiều hoạt động phá hoại sự ổn định, phát triển của Việt Nam.

“Tôi là Nguyễn Thanh Tú, con của cố ký giả Đạm Phong. Bố tôi là cố ký giả Nguyễn Đạm Phong. Ngày 24-8-1982, băng đảng Việt tân đã thủ tiêu bố tôi. Trước khi A.C Thompson (A.C Thôm-xơn, phóng viên PBS - chú thích của người viết) gặp tôi để thực hiện cuốn phim Khủng bố ở Sài Gòn nhỏ (Terror in Litte Saigon), năm 2015 có hai phóng viên điều tra cũng muốn làm phim về tội ác này, nhưng vì lý do riêng, tôi đã từ chối. Sau khi bộ phim được phát hành năm 2015, tôi nhận được hàng chục nghìn email từ trong và ngoài nước Mỹ. Tôi đã so sánh quan điểm giữa các cộng đồng Việt Nam ở trong nước và hải ngoại. Với những người ở trong nước, hàng chữ đầu tiên của họ là xin chia buồn cùng gia đình anh Tú. Về làng báo chí của Mỹ, họ ủng hộ và tất cả đều hỏi thăm gia đình tôi, cũng như đề nghị giúp đỡ. Nhưng cộng đồng người Việt Nam hải ngoại, nhất là truyền thông hải ngoại lúc nào cũng bận rộn với câu hỏi ai đứng sau lưng anh, cộng sản là ai. Họ hỏi những điều mà tôi không hiểu gì cả. Tôi buồn cười vì tôi là một người con đi tìm công lý nhưng bị chụp mũ là cộng sản! Tôi hổ thẹn với làng báo chí Mỹ. Cộng đồng Việt Nam hải ngoại có cả trăm hội đoàn, hội đồng liên tôn, tổ chức chính trị và truyền thông nhưng chưa ai lên tiếng hỏi về gia đình tôi, hay muốn biết tôi hiện sống ra sao. Tôi ước chi các anh hỏi thăm những phút cuối cùng bố tôi sống ra sao. Vì nếu các anh đặt ra hỏi câu đó thì các anh sẽ hiểu tại sao có ngày hôm nay.

Bấy giờ bố tôi đã bị đe dọa. Lúc đầu, họ mua chuộc nhưng không được, dù khi ấy nhà tôi nghèo lắm. Bố tôi không chịu. Rốt cuộc, họ đã đưa ra ba thông điệp cho bố tôi và hai cộng sự. Hai người đó đã hẹn với bố tôi để bàn về thông điệp đó ở một quán cà-phê. Thông điệp rất đơn giản “ngừng hay là mất mạng?”. Bố tôi nói câu này: “Các anh muốn sống tự do, đừng sợ chết. Hai anh về nhà với vợ con đi”. Tôi cũng có mặt ở đó. Một người nói với tôi: “Tú, bố cháu cứng đầu quá”. Bố tôi đã nói: “Việc này tôi phải làm. Nếu tôi không làm, các anh sẽ sống, tranh đấu trong một bóng tối”. Tôi không ngờ mấy chục năm sau mình lại đứng trước cộng đồng để nhắc lại những câu như thế. Việc này tôi phải làm, nếu tôi không làm thì thế hệ một rưỡi, thế hệ hai sau này vẫn đang tranh đấu trong một bóng tối. Tôi biết họ dọa tôi, nhưng tôi cũng như bố tôi, trong lúc bị dọa, bố tôi đã không bỏ trốn. Ông vẫn tiếp tục đấu tranh. Tôi từng thắc mắc chuyện này: cộng đồng Việt Nam vẫn nói Việt tân là “hậu thân”, “Mặt trận” là “tiền thân” (“Mặt trận”: tên đầy đủ là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” thành lập năm 1980 tại Mỹ, Hoàng Cơ Minh làm “chủ tịch”, thành phần chủ yếu là sĩ quan, viên chức của chính quyền Sài Gòn trước đây, đã tiến hành một số cuộc xâm nhập vũ trang nhằm lật đổ chính quyền Việt Nam nhưng đều thất bại. Năm 1987, Hoàng Cơ Minh bị bắn chết trong một lần xâm nhập. Năm 2004, “Mặt trận” tuyên bố giải tán, tổ chức khủng bố Việt tân ra đời với vai trò là tổ chức kế tục của “Mặt trận” - chú thích của người viết). Lúc ấy, tôi mới biết cộng đồng Việt Nam bị lừa gạt. Muốn hiểu Việt tân, cộng đồng Việt Nam phải hiểu chính sách của họ là gì. Chiến lược là “Việt tân” và chiến thuật là “Mặt trận”. “Đảng” là trường kỳ, “Mặt trận” là giai đoạn. Năm 2004, khi Việt tân giải tán “Mặt trận Hoàng Cơ Minh” để chứng minh ai có quyền, ai là đầu não, chính sách mới của Việt tân là bất bạo động. Thế nhưng, hãy xem chính sách bất bạo động mà ông Hoàng Cơ Định (em trai Hoàng Cơ Minh, hiện là một trong những kẻ cầm đầu và là người phụ trách tài chính của “Việt tân” - chú thích của người viết) đã gửi cho tôi: “Ông Đạm Phong, bố của Tú qua đời. Vì tôn trọng người quá cố, người ta không muốn nhắc hay phê bình việc làm của ông ta trước kia. Tuy nhiên, hành vi và tư cách của Nguyễn Thanh Tú đã làm sống lại con người của Đạm Phong. Nguyễn Thanh Tú cũng noi gương cha đùa bỡn với cuộc đấu tranh vì tự do và dân chủ Việt Nam của đồng bào mình. Nguyễn Thanh Tú đã không đưa ra những bằng cớ cho phép tìm ra thủ phạm - kẻ hạ sát bố mình nhưng anh đã cho nhiều người cảm nhận chuyện không may xảy ra cho ông Đạm Phong trước kia”. Tóm lại, ý của ông Hoàng Cơ Định muốn nói rằng: Đạm Phong cha xứng đáng bị giết, Đạm Phong con cũng như vậy. Đó là chính sách của Việt tân về bất bạo động. Còn đây là những gì Hoàng Tứ Duy (Hoàng Tứ Duy: con trai của Hoàng Cơ Định, hiện nay là “người phát ngôn” của “Việt tân” - chú thích của người viết) viết: “Việc Nguyễn Thanh Tú và đồng bọn đang làm là tiếp tay giải tỏa áp lực cho chế độ cộng sản Việt Nam, làm tản lực đấu tranh chung của người Việt. Chúng tôi kính kêu gọi mọi ban chấp hành, cộng đồng, mọi cơ quan truyền thông và hội đoàn hãy cảnh giác và cô lập những kẻ phá hoại”. Chữ “cô lập” cũng là chữ họ dùng với bố tôi trước khi thủ tiêu ông. Còn đây là nội dung của thành viên Việt tân thứ ba: “Thằng Tú phải tử thôi, chó chết! Bà con xem nó ở đâu xử trảm con trùm khuyết tật Việt gian này”. Thành viên thứ tư viết: “Tôi ủng hộ bất cứ tổ chức hải ngoại nào tổ chức tiêu diệt ám sát bọn cộng sản nằm vùng”…

Tôi là một nạn nhân. Thủ đoạn của họ là gọi tôi là cộng sản. Bố tôi cũng là một nạn nhân như vậy. Họ vứt báo, chặn đường, đánh và chĩa súng vào bố tôi. Khi phim Khủng bố ở Sài Gòn nhỏ ra mắt, họ gọi A.C.Thompson, D.Doug (D.Đâu), Tony (Tô-ni) Nguyễn là cộng sản… 42 năm qua chúng ta bước vào đất nước được coi là “thiên đàng của tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Tự do ngôn luận không phải là cứ bất đồng quan điểm thì bị coi là cộng sản. Tự do ngôn luận có nghĩa là chúng ta phải đối xử với nhau một cách quân tử. Còn với quyền tự do báo chí, tôi không được phép cấm ông Nguyễn Phương Hùng và Vũ Hoàng Lân quay phim (Nguyễn Phương Hùng và Vũ Hoàng Lân là phóng viên của KBC hải ngoại và Phố BolsaTV tại Mỹ - chú thích của người viết). Tôi không phải là con cờ chính trị của bất kỳ phe phái nào. Trước khi tôi thực hiện cuộc điều tra này, bố tôi đã lường trước rằng, khi ông nằm xuống truyền thông Việt Nam hải ngoại sẽ bị “Việt tân hóa” hết. Chiến lược của bố tôi là phải đóng hết những cái vòi bạch tuộc, những cái loa phát ngôn để cô lập nó. Bạch tuộc ở đây là Việt tân.

Tôi muốn trình bày sơ bộ về VOISE và lý giải tại sao tổ chức này quan trọng với Việt tân như vậy? (VOISE: tổ chức ngoại vi của Việt tân do Trịnh Hội cầm đầu - chú thích của người viết). VOISE xin gây quỹ của chương trình NED (Quỹ quốc gia phát triển dân chủ - National Endowment for Democracy). VOISE được NED tài trợ nhờ sự “tín nhiệm” của NED dành cho tổ chức này. Để nhận được sự tín nhiệm, VOISE làm đơn xin tài trợ. Trong đơn xin tài trợ công bố trên internet (in-tơ-nét), VOISE tự nhận tổ chức của họ được thành lập từ năm 1997; và họ tự nhận từ năm 1997 đã cứu được 1.573 người tị nạn từ châu Phi qua. Chuyện này không có thật. Tôi biết điều đó, vì tôi đã viết một lá thư cho NED nhờ họ thẩm định. Giai đoạn 1997 - 2001, VOISE không hề tồn tại. Lúc đó, Trịnh Hội còn làm việc cho LAVAS (Tên viết tắt tiếng Anh của cái gọi là “Dự án hỗ trợ pháp lý cho người Việt Nam tị nạn” - chú thích của người viết) một tổ chức dưới quyền BPSOS (tên viết tắt tiếng Anh của cái gọi “Ủy ban cứu trợ thuyền nhân - chú thích của người viết). Điều thứ hai, VOISE nhận rằng đã cứu được 1.573 người tị nạn và đưa đến nước Mỹ. Đây là thông tin bịa đặt, vì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã xác nhận một sự thật khác. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ không cho phép và không cần VOISE giúp đỡ những người này. Chính Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa gần 2.000 người đó đến Mỹ chứ không phải VOISE.

Thật ra bấy giờ LAVAS cũng không còn hợp tác với BPSOS. Tuy nhiên, LAVAS vẫn hoạt động do được gây quỹ bởi luật sư Nguyễn Quốc Lân. Ông này đã gây quỹ cho Trịnh Hội. Chính sách và cách thức làm ăn của LAVAS giống hệt Việt tân, không ghi danh với sở thuế, không nộp tiền vào ngân hàng. Họ gây quỹ ít nhất là 300 nghìn USD nhưng số tiền này đã đi về đâu khi họ không hề có tài khoản tại ngân hàng. Nguyễn Đình Thắng (nhân vật có nhiều hoạt động chống phá Việt Nam, là kẻ cầm đầu BPSOS - chú thích của người viết) tố cáo LAVAS không được làm điều này, nhưng họ vẫn tiếp tục gây quỹ. Một trong những người dính líu đến việc đó là nhạc sĩ Nam Lộc. Quỹ nào liên quan đến Việt tân như SBTN (một địa chỉ truyền thông chống cộng cực đoan của người Mỹ gốc Việt, trước đây ông Nguyễn Thanh Tú cho biết SBTN có quan hệ rất chặt chẽ với Việt tân - chú thích của người viết), “Quỹ bên em đang có ta” (Một hoạt động do SBTN tổ chức dưới danh nghĩa “ủng hộ đồng bào trong nước” nhằm quyên góp tiền bạc từ người Mỹ gốc Việt - chú thích của người viết) đều có sự xuất hiện của Nam Lộc. Nam Lộc đã đồng lõa với họ. Như vậy tại thời điểm 2004, LAVAS “ma” giống như Việt tân “ma” ra đời.

Trong giai đoạn 2005-2007, Trịnh Hội đã mua liên tiếp ba cái nhà, trong khi anh ta mới chỉ sang Mỹ từ năm 2002 và bố mẹ thì rất nghèo. Vậy anh ta làm gì có tiền. Năm 2007, Hoàng Tứ Duy là một trong những người lập ra VOISE. Hoàng Tứ Duy chính là phát ngôn viên của Việt tân. Lúc này, Trịnh Hội lại đang ở Việt Nam đóng phim 14 ngày phép.

Từ năm 2007 đến năm 2010, Trịnh Hội mua thêm một căn nhà có giá hơn một triệu USD ở Oa-sinh-tơn (Washington) chỉ để phục vụ cho các hoạt động của Hoàng Tứ Duy. Lúc ấy, VOISE thực chất hoạt động dưới quyền của Hoàng Tứ Duy. Đây là sự thật về VOISE mà nghị viên TP San Jose là Tâm Nguyễn không muốn ai biết.

Tại sao những điều này lại quan trọng? Tôi đã trình bày những nội dung đó cho NED. Tôi yêu cầu nếu những thông tin trên đúng sự thật thì họ phải chuyển nội dung đó cho Văn phòng Tổng Thanh tra và Bộ Ngoại giao. Sau khi thẩm định, NED hồi âm rằng họ đã gửi thông tin cho Văn phòng Tổng Thanh tra và Bộ Ngoại giao. Mục tiêu của tôi là chặt những bàn tay gây quỹ của Việt tân để họ không thể lợi dụng cộng đồng Việt Nam được nữa. VOISE cũng tổ chức một chương trình khác mang tên “Quỹ sen hoa” ở Ca-na-đa. Quỹ này cũng thuộc về Việt tân.

Tôi muốn nói về ông Đỗ Thông Minh (một trong những kẻ lập cái gọi là tổ chức “Người Việt tự do” ở Nhật Bản, cũng là một trong mấy kẻ cùng Hoàng Cơ Minh lập ra “Mặt trận” - chú thích của người viết). Và đây là đoạn hội thoại giữa tôi với ông Đỗ Thông Minh:

- Nguyễn Thanh Tú: Xin vui lòng cho tôi hỏi về lời tuyên bố của ông Hoàng Cơ Minh, “mặt trận” đã vào được đất mẹ và bắt tay vào thống hợp 36 tổ chức với 10.000 tay súng. Chuyện đó có thật không anh?

- Đỗ Thông Minh: Chuyện đó không có thật. Con số 10.000 là giả;

- Nguyễn Thanh Tú: Nếu chuyện đó không có thật thì có phải là lừa gạt cộng đồng hải ngoại không?

- Đỗ Thông Minh: Đồng ý, nhưng đó là sự lừa gạt theo công lý!;

- Nguyễn Thanh Tú: Sự lừa gạt ấy là ý kiến của ai?

- Đỗ Thông Minh: Tôi phản đối ông Hoàng Cơ Minh chuyện đó. Nhưng ông Minh nhất định làm. Trong năm người chết có hai người đáng coi là nạn nhân trực tiếp vì những bài báo họ viết đã xúc phạm “Mặt trận” nặng nề. Đó là nhà báo Đạm Phong của tờ Tự do năm 1982 và ký giả Lê Triết của tờ Văn nghệ tiền phong năm 1990”.

Điều này cho tôi thấy “mặt trận Hoàng Cơ Minh” ra đời từ động cơ dối trá. Lời của Đỗ Thông Minh cho thấy ông biết sự thật nhưng im lặng. Thậm chí ông còn đưa lên báo Kháng chiến về thông tin 10.000 quân. Đó là hành động âm mưu, đồng lõa dù ông không còn địa vị trong Việt tân.

Tôi xin nói tiếp về RFA. Năm 2011, trong chương trình “Đại hội thanh niên sinh viên Việt Nam - thế giới” (một hoạt động do Việt tân tổ chức - chú thích của người viết), có một người là Thái Văn Dung nêu vài câu hỏi thắc mắc về Việt tân với Lilly Nguyễn. Chỉ vì anh ta đặt ra các câu hỏi về Việt tân mà Lilly Nguyễn đã đưa ngày sinh tháng đẻ, chỗ ở hiện tại của Thái Văn Dung tại Việt Nam lên trang tin của RFA. Chẳng những vậy, cô ta còn công khai cả hộ chiếu, mọi thông tin hoạt động của Thái Văn Dung. Thời điểm đó, RFA nằm dưới quyền của Nguyễn Văn Khanh (trưởng ban tiếng Việt của RFA - chú thích của người viết). Sau chuyện này, Thái Văn Dung đã trở về Việt Nam. Anh ta bị bắt cùng 13 người khác và đã bị tuyên án. Tôi nói chuyện với Mẹ Nấm để phục vụ công tác điều tra, cô ta xác nhận điều này là có thật (Mẹ Nấm: tên thật là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, người gần đây bị cơ quan công an Việt Nam khởi tố, bắt tạm giam vì có hành vi “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”). Trước việc này, RFA đã làm gì? Họ tổ chức một chương trình lấy tên gọi là “Phải lên tiếng” (Speak up). Trịnh Hội, Nam Lộc, Nguyễn Văn Khanh còn lên SBTN trong chương trình “Ủy ban vận động nhân quyền” do SBTN dựng lên để gây quỹ cho 14 người ấy. Nhưng họ gây quỹ cho ai khi những người ấy vào tù vì họ? Họ đổ thừa cho Chính phủ Việt Nam, nhưng Chính phủ Việt Nam không làm gì cả, mà chính họ đã giao những người ấy cho chính quyền Việt Nam.

Cộng đồng đã biết chiến dịch “Triệu con tim” của phong trào “Dân chủ cho Việt Nam” (Democracy for Vietnam). Những người đã dựng lên phong trào này là Trần Trung Dũng, Đông Xuyến, Bình Nguyễn. Họ cũng là thành viên của Việt tân. Thế “Ủy ban nhân quyền cho Việt Nam” (Humanrights for Vietnam) do ai dựng ra? Đây cũng do băng đảng “Việt tân ma”, hai sáng lập viên phong trào này là Nguyễn Anh Tuấn và Đỗ Phủ của SBTN. Việt tân cũng gửi tiền cho Đào Bá Kế (tức Trần Quang Độ, chỉ huy cái gọi là “Đông tiến 3” do Việt tân tổ chức xâm nhập vào Việt Nam, bị bắt năm 1989 và bị tuyên án chung thân - chú thích của người viết). Đào Bá Kế là “kháng chiến quân của Việt tân”. Điều này làm sáng rõ ở bên Mỹ muốn làm triệu phú dễ dàng thì chỉ có hai công việc: kinh doanh chống cộng và kinh doanh thiện nguyện.

Điều tiếp theo mà tôi muốn nói là chương trình “Hát cho nhân quyền Việt Nam” là chương trình gây quỹ của “Nhân quyền cho Việt Nam” phối hợp cùng SBTN. Họ dùng chữ phối hợp với SBTN, nhưng Nguyễn Anh Tuấn và Đỗ Phủ lại cùng là thành viên hai tổ chức này. Họ dùng chính sách không khác gì Việt tân và “Mặt trận”. Trên Việt báo Online, họ thông báo đã gây quỹ được 51.000 USD và nói tiền còn đang tăng. Nhưng khi khai báo với Ủy ban thương mại liên bang, họ nói rằng chỉ thu được 2.200 USD vì 96% cộng đồng Việt Nam “hứa cuội”. Đây là chuyện mà tôi kiện SBTN, “Nhân quyền cho Việt Nam” và Việt tân, vì tôi đã có PAC receipt (biên lai thống kê) số tiền quyên góp thật sự. Tôi xin nói tiếp về “Quỹ bên em đang có ta” của Diệu Quyên, vợ nhạc sĩ Trúc Hồ. SBTN quảng cáo họ sẽ phối hợp với “Quỹ bên em đang có ta”, nhưng quên nói chi tiết Nguyễn Anh Tuấn, Đỗ Phủ và nhạc sĩ Trúc Hồ có quan hệ mật thiết với nhau. Không ai khác, thủ quỹ của chương trình chính là Diệu Quyên. Vậy hành động này khác gì “tay trái đưa tay phải”. Đây là một điều nguy hiểm, vì hoàn toàn dính líu đến Việt tân. Thông báo của Sở Thuế cho thấy Trương Anh Hùng (Trúc Hồ), Diệu Quyên, Đỗ Phủ, Nguyễn Anh Tuấn, Hoàng Tứ Duy đều biết điều đó.

Ba mươi năm nay, cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã bị lừa gạt dưới âm mưu của dòng chính truyền thông của mình. Truyền thông đã bán đứt cộng đồng Việt Nam vì đồng tiền. Tôi gọi là truyền thông, nhưng nó không xứng đáng với cụm từ này. Họ đã làm việc một cách vô lương tâm, vô đạo đức, không có tình đồng nghiệp. Trịnh Hội và VOISE không hoạt động như ngày xưa nữa. Việt tân đã rất khổ với tôi vì NED ngừng tài trợ cho VOISE. Đây là chiến thắng lớn lao mà tôi đạt được mà nhiều người không thấy”.

Tiếp theo là lược ghi một số nội dung trao đổi tại cuộc họp báo:

Hỏi: Có phải vì anh không đủ chứng cứ về vụ ám sát cho nên anh chuyển sang điều tra thuế vụ?

- Nguyễn Thanh Tú: Khám phá ra tội ác của mafia không phải từ FBI, cảnh sát mà chính là thuế. Xác chết giấu được nhưng tiền, gia tài, nhà cửa, vàng thì không thể. Mọi việc tôi bắt đầu từ thuế mà ra. Bố tôi bị giết. Tôi biết hung thủ là ai. Tôi tha cho họ vì những người này đã gần đất xa trời. Tôi không muốn gia đình họ phải trải qua những gì mà gia đình tôi đã phải chịu đựng. Nhưng Việt tân là cái trường kỳ cần phải kết thúc. Đó là chính sách cần phải kết thúc.

Hỏi: Chúng ta thấy chuyện khủng khiếp là những người tự xưng viết văn, làm báo ở Nam Cali không ai ủng hộ Nguyễn Thanh Tú?

- Nguyễn Thanh Tú: 30 năm nay, cháu không tham gia vào cộng đồng Việt Nam. Cái cháu thấy nhục nhã nhất là chưa cộng đồng nào thấy năm người Việt nằm xuống chết như vậy mà không hề lên tiếng. Cả trăm hội đoàn, hội đồng liên tôn, tổ chức chính trị mà không một người lên tiếng. Cả một cộng đồng như vậy mà cuối cùng phải để một người Mỹ trẻ phải lên tiếng cho một đồng nghiệp. Cháu thấy hổ thẹn và đã muốn từ bỏ nhưng sau khi mẹ cháu khuyên con phải quay lại. Nhưng cháu hy vọng và kêu gọi những người cầm bút, vì tinh thần đồng nghiệp, vì sự thật. Vì sự thật sẽ giải phóng cộng đồng hải ngoại để chúng ta có một tiếng nói mạnh.

Hỏi: Tôi muốn hỏi anh Tú là anh muốn dẹp Việt tân. Nhưng anh phải nhớ một điều rằng rất nhiều hội đoàn kể cả hội đoàn tù nhân chính trị và cộng đồng ở khắp mọi nơi đều có người của Việt tân cài cắm trong đó. Vậy bây giờ anh dẹp Việt tân nhưng các thành viên Việt tân vào các hội đoàn, các cộng đồng thì anh giải quyết chuyện này thế nào?

- Nguyễn Thanh Tú: Khi cá mẹ chết, cá con sẽ chết hết. Nhiều người mời tôi qua Australia (Ô-xtrây-li-a), châu Âu, Canada, nhưng tôi từ chối. Cái đầu bạch tuộc là ở đây, khi tôi mổ phơi khô thành khô bạch tuộc thì các vòi chết hết. Tôi không sợ về chuyện đó. Khi băng đảng mafia chết, các thành viên mafia cũng chết. Tôi hiểu anh nói điều đó nhưng trước phải làm từ Sở Thuế. Kỳ này tôi làm được nhiều điều hơn với Sở Thuế là đã gửi thông tin đến Tổng Thanh tra Chính phủ. Vì Việt tân đã động đến Chính phủ Hoa Kỳ. Việt tân lừa gạt 204.000 USD của chính phủ chứ không phải cộng đồng Việt Nam. Những email tôi đưa ra đây là bằng chứng. Cộng đồng Việt Nam hãy tin cậy việc làm của tôi. Tôi làm việc rất khoa học. Chỉ có điều này, Việt tân mới sợ.

Hỏi: Trong đơn kiện, Việt tân gửi cho anh, ngoài tên anh còn có tên một người khác là Michael Dương. Cho tôi biết bà ấy là ai? Quan hệ giữa bà ấy và anh là như thế nào?

- Nguyễn Thanh Tú: Bà ấy chỉ là một người quen thôi. Có nhiều người đã giúp tôi về mặt tài chính. Có người giúp đỡ tôi đến mức sẵn sàng gửi thẻ ngân hàng cho tôi, nhưng tôi đã từ chối vì lý do riêng. Vì họ biết, con đường tôi đi rất minh bạch về tài chính. Sẽ đến lúc, tôi kêu gọi cộng đồng giúp tôi. Vì nó là đại cục, là chính nghĩa cho cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại và cho các nạn nhân vì tình nguyện đi theo ông Hoàng Cơ Minh mà bị tử hình tại Thái-lan. Trong số nạn nhân mà tôi và Thompson biết được, có người bị tử hình bằng 18 viên đạn chỉ vì ăn cắp một muỗng đường của ông Hoàng Cơ Minh. Có những người biết sự thật, trốn đi nhưng bị cảnh sát Thái-lan bắt về, cũng bị Hoàng Cơ Minh tử hình. Tại sao họ muốn rời đi vì họ muốn cộng đồng biết sự thật.

Nguồn: Báo Nhân dân ra ngày 09/6/2017 (thứ 6) và ngày 23/6/2017 (thứ ba).

1. Vận dụng trong sinh hoạt đảng

Việc vận dụng những giá trị tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng hiện nay, thiết nghĩ các tổ chức đảng cần quan tâm thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi đảng viên cần nhận thức sâu sắc hơn nữa vềtầm quan trọng, ý nghĩa của việc tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng. Từ đó xây dựng được chương trình, kế hoạch, nội dung tự phê bình và phê bình một cách thường xuyên, cụ thể, đảm bảo mục tiêu, nguyên tắc. Có nhận thức rõ được ý nghĩa của hoạt động này mới có thể tạo ra một bầu không khí cởi mở, nghiêm túc khi tiến hành tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Từ đây sẽ tránh được cả hai biểu hiện tiêu cực khi tiến hành tự phê bình và phê bình: một là, hình thức, qua loa, nể nang, né tránh, ngại va chạm; hai là lợi dụng tự phê bình và phê bình để hạ thấp, bôi nhọ uy tín đảng viên, hoặc làm rối loạn tổ chức… Mặt khác, khi nhận thức được rõ mục tiêu, ý nghĩa của hoạt động này thì người bị phê bình cũng được “giải phóng tư tưởng” cùng góp phần xây dựng khối đoàn kết, nhất trí chung.

Hai là, tại các tổ chức đảng, việc tiến hành tự phê bình và phê bình luôn phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hình. Đó là, tự phê bình và phê bình là để giúp nhau tiến bộ, làm cho tổ chức vững, phê bình việc chứ không phê bình người… Có nhận thức và thực hiện đúng nguyên tắc này mới đảm bảo cho sinh hoạt đảng thực sự có ý nghĩa, tạo động lực cho cán bộ, đảng viên phấn đấu, giữ gìn tình đồng chí, đồng nghiệp, giúp nhau cùng phát triển.

Ba là, tự phê bình và phê bình phải được tiến hành nghiêm túc nhưng thực hiện đúng phương pháp theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là, phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay thâm độc. Chỉ khi thực hiện đúng mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp trong tự phê bình và phê bình mới có thể làm cho tổ chức đảng vững mạnh, tạo cơ hội cho cán bộ, đảng viên phấn đấu, phát triển, cống hiến.

2. Vận dụng trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đảm bảo khối đoàn kết, nhất trí chung

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đã nêu rõ tính chất nguy hiểm của “Bệnh hẹp hòi” mà mấu chốt của nó từ việc đề cao lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ địa phương, lợi ích nhóm… coi nhẹ lợi ích tập thể, lợi ích chung. Đây là căn bệnh đang ngày càng gia tăng trong nội bộ Đảng ta hiện nay và không có dấu hiệu “miễn nhiễm” với cơ quan, tổ chức nào. Nhận thức rõ vấn đề này, Đảng ta đã cho ra đời nhiều chủ trương, nhiều nghị quyết và chương trình hành động nhằm phòng chống căn bệnh này để hạn chế tình trạng suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Nghiên cứu “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ thấu hiếu rõ hơn những tác hại không lường của “Bệnh hẹp hòi” mà biểu hiện cụ thể của nó là chủ nghĩa cá nhân, sự cục bộ địa phương, gây mất đoàn kết, chia rẽ trong nội bộ… Do đó, để tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng tốt là yêu cầu cấp bách đang đặt ra. Giải pháp vận dụng giá trị tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Hồ Chí Minh về vấn đề này như sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác tư tưởng, hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn nhận thức và hành động theo tinh thần: Lợi ích cá nhân luôn được thừa nhận nhưng phải được đặt trong lợi ích tập thể và lợi ích tập thể là tối thượng. Chỉ khi nhận thức và hành động theo nguyên tắc này thì đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý mới cho ra đời những quyết sách “sáng” và thúc đẩy sự phát triển chung trong một môi trường đoàn kết, nhất trí cao; đội ngũ cán bộ, đảng viên mới phấn đấu hết mình, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi hoàn cảnh.

Thứ hai, phát huy tinh thần nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hoạt động thực tiễn. Tinh thần vì tập thể, không ngừng cống hiến cho tập thể vì những tấm gương lớn cần phải được thừa nhận và nhân rộng. Chính sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý sẽ có tác động lớn trong đào tạo đội ngũ, trong xây dựng khối đoàn kết nhất trí của cơ quan, tổ chức. Muốn làm được việc đó, rất cần có nhiều sự tâm huyết và những tấm lòng chân thành, “tâm sáng”, dám gạt bỏ những toan tính, lợi ích cá nhân có tổn hại tới lợi ích tập thể… vì sự phát triển chung.

Thứ ba, trong sinh hoạt đảng cần nghiêm khắc phê bình và có hình thức kiểm tra, giám sát và kỷ luật thích đáng với những biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, địa phương chủ nghĩa, bè cánh, đề cao lợi ích cá nhân, gây mất đoàn kết nội bộ dưới nhiều hình thức. Vận hành tốt quy chế dân chủ ở cơ quan để phát huy cao hơn nữa sự giám sát, phản biện của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của nhân dân đối với những hoạt động chung, đặc biệt là trong đấu tranh phòng chống các biểu hiện tiêu cực, xuất hiện trong nội bộ Đảng.

Như vậy, phần “Sửa đổi lối làm việc trong Đảng” của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chứa đựng nhiều nội dung, giá trị lớn cần nghiên cứu, vận dụng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng ta, của các cấp bộ Đảng và đội ngũ đảng viên. Việc nghiên cứu và vận dụng những giá trị tư tưởng này của Người sẽ góp phần quan trọng trong tăng cường khối đoàn kết trong nội bộ Đảng, trong các cơ quan, đơn vị; tăng cường sự gắn kết giữa Đảng với Nhân dân… trong tình hình hiện nay.

                                                                      Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trích đăng từ Tạp chí Giáo dục lý luận của Học viện Chính trị khu vực I phát hành tháng 5 năm 2017.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

 

Đây là tổ chức từ thiện xã hội được toàn thế giới và nhà nước công nhận. Là đơn vị tiếp nhận các nguồn cứu trợ, tại trợ và là nơi hỗ trợ, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo trong xã hội không phân biệt địa lý, tôn giáo và dân tộc.

Khi có nhu cầu cần liên hệ vui lòng liên hệ trực tiếp hoặc gọi điện thoại số: (08) 39491383

 

Thành viên Ban biên tập

Tổng biên tập chịu trách nhiệm xuất bản:
Đỗ Văn Ánh - PCT Hội CTĐ Quận
Điện thoại: 0909 349 533

Tổng hợp & thư ký:
1/ Vũ Thị Hồng Gấm
2/ Nguyễn Thị Kiều Oanh

Kỹ thuật và bảo trì:
1/ Nguyễn Đức Cường
(0168 992 3979)